jump to navigation

Thầy Bình kính mến! 15 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Học sinh viết về thầy.
add a comment

Website này chúng em, tất cả các học sinh cũ của thầy, kính tặng thầy để tỏ lòng biết ơn đến các công lao của thầy dạy dỗ chúng em thành người.

Cháu cũng là học sinh thầy Bình ! 9 Tháng Mười Hai 2009

Posted by nguyenkcuong in Học sinh viết về thầy.
1 comment so far

từ bạn Hà Linh – sinh viên trường ĐH KTQD – halinh1812@gmail.com

Cháu chào chú Cương!

Cháu có xem trang wordpress về thầy Bình của chú. Cháu là Hà Linh, học sinh của thầy khoá 2001-2005, như vậy là kém chú 23 tuổi. Gia đình cháu có rất nhiều người học thầy Bình, mẹ cháu cũng là học sinh thầy Bình từ những năm 70-71 khi còn đi sơ tán. Lúc còn học thầy cháu cũng hay nghĩ về việc sau này sẽ lập 1 trang web về thầy, để học sinh của thầy tất cả các khoá đều có cơ hội chia sẻ với nhau. Hồi ấy cháu còn bé, và công nghệ chưa phát triển, bây giờ thì làm gì trên mạng cũng dễ dàng hơn nhiều. Cháu rất vui khi đọc được trang thaybinh.wordpress.com của chú.

Thực ra mọi năm cháu cũng hay viết blog về thầy Bình nhân dịp 20/11 hoặc sinh nhật thầy 16/09. Các bài viết cũng hơi tản mát, nên cháu chỉ gửi chú 1 entry cháu viết cách đây 2 năm, năm 2007. Nếu có thể thì coi như đây là đóng góp của lứa học sinh nhỏ tuổi nhất, lứa học sinh chuyên toán Trưng Vương cuối cùng được thầy Bình chủ nhiệm chú ạ.

“Con đã từng nghĩ rằng trong đời con sẽ không còn gặp người thầy nào tuyệt vời hơn thầy nữa. Và dù cuộc sống vô cùng kì diệu, con thật may mắn khi được học biết bao thầy cô đáng quý khác, thầy vẫn có một vị trí cực kì đặc biệt trong con. Con nhớ rất nhiều những hành động, lời nói của thầy. Tất cả những gì thầy truyền đạt cho chúng con, kể cả kiến thức hay bài học về cuộc sống đều để lại những ấn tượng sâu sắc. Con không thể quên được đoạn đối thoại như thế này:

“Tại sao con không chép bài?”

“Có phải lần trước con nghỉ học không?”
Không ạ.
“Thế hay buổi ấy con bị ốm”
Không ạ.
“Thế sao con không chép bài? Con bị 1 điểm.”

Đoạn đối thoại ko chỉ diễn ra một lần, nhưng lần mà con nhớ nhất thì là thầy nói với bạn Ngọc Hiếu. Có cảm tưởng như là chỉ cần học sinh nói rằng lần trước con bị mệt hay điều gì đó tương tự, thầy sẽ tha thứ ngay lập tức và ko ghi điểm xấu. Nhưng có lẽ chẳng ai đủ can đảm để nói dối thầy dù là điều nhỏ nhất. Và kể cả thầy rất dứt khoát ghi điểm 1 vào sổ thì đến khi tổng kết năm học thầy vẫn có cách nào đó thay thế nó một cách rất chính đáng.

Đến bây giờ đối với con thầy vẫn là thầy dạy Toán hay nhất. Có thể ngoài hồi lớp 9 học khá nhiều thầy ở Đội tuyển thì con cũng chả mấy khi đi học thêm Toán nhưng con vẫn tin là khó có ai dạy dễ hiểu như thầy. Thầy bao h cũng trình bày vấn đề rất sáng sủa, làm cho học sinh H1 bọn con đi đâu cũng có lợi thế về mặt trình bày. Kể cả những cái nhỏ nhặt như khi phân các ý trong bài toán thì dùng dấu chấm chứ ko gạch đầu dòng vì có thể nhầm với dấu trừ, dấu suy ra thì phải viết như thế nào, khi nào dùng từ “do đó”, khi nào dùng từ “suy ra”,… tất cả những cái tỉ mẩn đấy con cũng học ở thầy. Thầy lúc nào cũng tôn trọng bọn con. Chắc là thầy cũng sẽ chẳng bao h quên được bạn Gia, một bạn đặc biệt luôn suy nghĩ một cách kì lạ. Còn con thì sẽ chẳng bao h quên cách thầy khuyến khích tất cả chúng con sáng tạo, tìm ra những cách giải khác. Thỉnh thoảng khi mà thầy gọi Gia lên bảng mà bạn trình bày khó hiểu quá, thì mặc dù cầm khăn lau bảng xóa gần hết đi, chỉ để lại đc mấy dòng dễ nhìn, thầy vẫn cười và nói với cả lớp “Thầy viết lại cách này theo ý của bạn Gia, tại chữ bạn khó đọc quá.” Lúc nào thầy cũng cười như thế, hiền như một ông tiên, một nụ cười bừng sáng và không bao h tắt, làm cho bà ngoại con cứ hay bảo “Thầy Bình của cháu xinh như cái kẹo ý”. Lại tiếp về Gia, mỗi khi cách của bạn ý dài dòng khó hiểu quá, diễn đạt lại lùng bùng, ko muốn làm mất thời gian của cả lớp, thầy toàn đến tận chỗ bạn để nghe, rồi trao đổi với bạn. Lúc nào thầy cũng lắng nghe bọn con, dù cho nó có là điều dở hơi nhất đi chăng nữa, không bao h thầy bảo cách của thầy là ngắn nhất là hay nhất cả. Bài tập thầy cho ít khi quá khó, mà thường chỉ hơi nâng cao, nhưng lại rất hay. Lớp 6, lớp 7 là quãng thời gian con thích học toán nhất. Có lẽ là bởi vì hồi ấy có quyển Một số vấn đề phát triển được thầy kí vào cho. Chỉ vài chữ thôi, thầy – Vũ Hữu Bình, thế mà con luôn nghĩ là nếu cháy nhà thì một trong những vật con mang theo đầu tiên sẽ là quyển sách ấy.

Hồi lớp 6 thầy không chỉ dạy Toán mà còn dạy cả Giáo dục công dân, thế cho nên GDCD lại trở thành một môn hấp dẫn vô cùng chứ. Những gì cần ghi cần nhớ thầy ghi hết lên bảng. Con còn nhớ như in bài giảng về đức tính “Thật thà” có một phần chú ý gồm 2 gạch đầu dòng. Gạch thứ nhất là Phải biết nói thật ở đúng chỗ. Và gạch thứ hai là Không những phải thật thà với người khác, mà còn phải thật thà với chính mình. Chính ra con nghĩ lúc học lớp 6 chúng con chẳng hiểu hết được cái chú ý ko có trong sách đấy đâu, vì đó có lẽ là kinh nghiệm thầy tự rút ra, mà mãi về sau con vẫn nhớ mãi. Xong còn lại thời gian thì thầy kể chuyện. Ko hiểu sao mà cái kiểu kể chuyện hiền hiền một cách hào hứng thích thú của thầy làm cho con thấy buồn cười thế ko biết. Thầy hay kể chuyện ông sáng lập tập đoàn Hyundai hay là Daewoo gì đấy, với chiến lược bán báo ở chợ hồi bé, nghe rất cuốn hút mới lạ. Rồi cả chuyện cảnh sát giao thông ở Ucraina nữa. Tất nhiên là thầy cũng chẳng hay nói dông dài lắm đâu, vì thầy thường cho học Toán vào giờ GDCD luôn. Nhưng có lẽ, dù thầy ko kể chuyện đi chăng nữa, bản thân thầy cũng là một câu chuyện ý nghĩa của bọn con rồi.

Và có một lần thầy nói là hồi xưa khi bố mẹ các con bằng tuổi các con bây giờ, đi học rất thiếu thốn nên vở thường giấy rất xấu, lại hay kẻ thêm dòng ở trên và dưới để viết cho được nhiều, nhưng học sinh lại viết chữ rất đẹp. Vào khoảng năm 70 – 71 khi thầy về sơ tán ở Gia Lâm, ở đấy thầy có dạy một học trò rất thông minh, chữ viết rất tròn và rất đẹp. Xong thầy chỉ vào con “Học trò đó là mẹ bạn Mai Linh”. Hôm ấy các bạn bảo mặt con đỏ bừng, ngượng quá. Con nghĩ thầy gọi con là Mai Linh cũng một phần vì lúc đầu thầy chỉ nhớ tên mẹ con thôi. Nhà con có biết bao nhiêu người học thầy: mẹ con, cô con, chú con, em con, rồi đến con. Thế mà thầy không quên một ai cả. Mẹ con học thầy có hơn 1 học kì, vì thời ấy chiến tranh sơ tán có học cố định ở đâu đâu. Chú con cũng thế, mà hình như chỉ được khoảng 3 tháng thôi. Đến lúc thầy gặp lại khi chú đi cùng cô đến họp lớp chuyên toán Trưng Vương, thầy vẫn còn nhớ tên, rồi vẫn bảo “Cậu này ngày xưa học giỏi Hình”. Thầy nhớ học sinh một cách kinh khủng, bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu con người, mà sao trái tim thầy rộng đến thế. Cô con kể thầy luôn có quyển sổ ghi lại đầy đủ danh sách học sinh các khóa, địa chỉ, nơi công tác… và đặc biệt có 1 cột chỉ có 2 chữ “có” hoặc “không”. Lúc đầu cô thắc mắc ko biết đấy là cái gì, hỏi thầy thì thầy mới bảo đấy là cột có gia đình hay không. Khi nào nghe tin mới thầy lại sửa vào quyển sổ ấy. Chắc chẳng có người thầy nào lại quan tâm đến học sinh như thầy.

Hồi xưa thầy có rất là nhiều trò hay cho bọn con nhé. Thầy rất hiểu học sinh cho dù thầy hơn chúng con đến gần 50 tuổi. Thầy để ý thấy chúng con rất hay có kiểu đang trong giờ học khác mà thầy gọi bạn nào đấy ra ngoài, thì y như rằng lúc bạn ấy vào, xung quanh sẽ bu vào hỏi Thầy gọi ra làm gì thế. Thế là thầy dặn, từ nay mỗi khi thầy gọi ra ngoài thầy sẽ nói một số nội dung thông tin A, B, C, D… Trong đấy, có một điều coi như mặc định là “Không được tò mò”. Khi các bạn hỏi thì chỉ cần nói thầy bảo tớ là “không được tò mò” thôi. Con thấy trò đấy hay kinh khủng ra ý, và mãi sau này con vẫn có thói quen làm thế. Thầy còn hay làm thơ nữa, nhất là thơ chúc tết. Con nhớ ngày xưa thầy còn cho bọn con chơi trò sắp xếp các chữ trong câu thơ thành một định lý toán học. Con rất nhớ định lý hôm ấy “Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau”. Sau này đọc Mật mã Da Vinci con mới biết đấy là một dạng anagram.

20-11 vừa rồi con không kịp gặp thầy. Các bạn bảo các bạn nhìn thấy thầy ngồi trong phòng, cố gọi thầy hoặc chờ thầy quay ra rồi vẫy nhưng hình như ko để ý. Một lúc sau thì thầy đi mất rồi, ko thấy thầy trong trường nữa. Bọn con đến nhà thầy thì thầy vẫn chưa về. Lâu rồi không nhìn thấy thầy cứ thấy thế nào ý. Các bạn ở Sing hôm trước đi thăm thầy bảo thầy vẫn khỏe mạnh, bây h viết 116 quyển sách rồi nên thầy sẽ ko viết nữa, chỉ ở nhà tập thể dục, đọc sách, làm việc nhẹ nhàng thôi. Thầy phải thật là khỏe mạnh vào đấy, con còn muốn làm rất nhiều thứ cho thầy, mà hiện thời chưa có điều kiện. Con chỉ muốn mỗi năm lại đc nhìn thấy nụ cười của thầy thôi, thầy ạ.

20/11/2007″


THẦY TÔI 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Học sinh viết về thầy.
add a comment

Chẳng khi nào tôi quên được thầy tôi

Người dạy chúng tôi đạo làm người

Uốn nắn chúng tôi từng chút một

Mà chúng tôi thì vẫn cứ ham chơi!

Thầy chẳng khi nào được thảnh thơi

Nhưng trên môi vẫn có nụ cười

Thầy vẫn yêu thương từng trò nhỏ

Một tình thương không cần nói nên lời.

Con cảm ơn thầy nhiều, thầy ơi!

Chỉ biết đền ơn bằng điểm 10

Con nhớ mãi người thầy tóc bạc

Người không thể thiếu trong cuộc đời…

Có khi nào thầy bực vì chúng con?

Và thầy lại tha lỗi cho chúng con

Và khi nào thầy thôi không dạy nữa

Liệu có khi nào thầy buồn không?

Con biết thầy vì chúng con nhiều

Chúng con đền đáp chẳng bao nhiêu!

Thầy như cha mẹ thứ hai đó

Người cha dạy con bao nhiêu điều!

Cuộc sống cứ trôi, vẫn cứ trôi

Vẫn còn đọng lại một bóng người

Với hàng chữ viết in trên bảng

Với trái tim nhân hậu sáng ngời.

Đỗ Quỳnh Anh

Học sinh khóa 30 chuyên Toán Trưng Vương

(1997 – 2001)

THẦY CON 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình, Học sinh viết về thầy.
add a comment

Kính tặng thầy Bình

Đăng trên báo Văn hóa chủ nhật ngày 7-10-2001

Thầy con là thi sĩ

Viết trang thơ cho đời

Gieo vần qua bài giảng

Ôi bay bổng từng lời

 

Thầy con là họa sĩ

Khắc họa lên khoảng trời

Sáng ngời bao mơ ước

Cho con bay muôn nơi

Thầy con là nhạc sĩ

Nốt nhạc quyện cuộc đời

Vút cao vang câu hát

Với giai điệu tuyệt vời

 

Đã qua mùa lá rơi

Xuân nay đã đến rồi

Mừng thầy, con xin chúc

“Hạnh phúc mãi” – thầy ơi!

 

Quách Trung Dũng

Học sinh khóa 30 chuyên Toán Trnưg Vương

(1997 – 2001)

NGƯỜI THẦY PHỐ CỔ 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình.
add a comment

Đăng trên báo Tin tức cuối tuần số Tết Ất Dậu 2005

 

Từ ngõ Tức Mạc, thầy chuyển về phố Yên Thái, cạnh ngõ Tạm Thương, nghĩa là “ẩn dật” hơn so với phố Hàng Bông mà thầy cùng gia đình ở từ nhỏ. Nhưng cái danh “thầy Bình Trưng Vương” thì chưa bao giờ ẩn. Một năm trở lại đây, thầy không phải hàng ngày đi đến trường nữa, song nghề thầy thì vẫn chưa dứt, đặc biệt là việc viết sách dạy và học Toán. Thầy vui mừng cho biết cuốn sách thứ 100 do thày biên soạn sắp ra đời. Danh hiệu cao quý nhất ,mà bất cứ người làm thầy nào cũng mơ ước và phấn đấu, thầy đã vinh dự nhận năm 2002. Thầy là Nhà giáo Nhân dân Vũ Hữu Bình. Xin được kể ba câu chuyện về một người thầy phố cổ Hà Nội.

Câu chuyện thứ nhất: 14 năm và một tấm bằng đại học.

Năm 1961, 18 tuổi, thầy tốt nghiệp phổ thông vào loại xuất sắc ở một trường nổi tiếng Hà Nội – trường Bưởi – Chu Văn An. Mơ ước cháy bỏng của thầy là được vào đại học sư phạm để sau này ra làm thày giáo. Nhưng vì không đạt tiêu chuẩn về lí lịch, thầy không thể thực hiện giấc mơ. Tuy nhiên, nghề giáo vẫn luôn là tiếng gọi thiêng liêng với chàng thanh niên 18 tuổi đầy nhiệt huyết. May mà lúc đó Hà Nội đang thiếu nhiều giáo viên, thầy đi học lớp sư phạm cấp tốc trong ba tháng và được phân công dạy cấp II tại Gia Lâm. Thế là được làm thầy. Vừa dạy, lại tiếp tục học bằng nhiều con đường khác nhau, đến năm 1975, nghĩa là sau 14 năm sau khi đứng lớp, thầy cũng đã có được tấm bằng tại chức Đại học sư phạm.

Tâm sự về việc học của một người thầy, thầy Bình nói: “Quan trọng nhất là phải thật sự yêu nghề, yêu trẻ để hiểu các em muốn gì ở mình, luôn biết cách tổ chức lớp học đẻ các em có thể tiếp thu tốt nhất, luôn gần gũi để giúp các em hoàn thiện nhân cách. Nghiệp vụ sư phạm và kinh nghiệm nghề là rất cần thiết. Vì vậy, muốn làm thầy tốt thì phải không ngừng học và tự học. Suốt 14 năm phấn đấu đến trình độ đại học sư phạm là tôi có ý thức như vậy”.

Điều đáng nói nữa là 14 năm ấy cũng là 14 năm đầy khó khăn, không riêng của gia đình thầy. Hai cuộc chiến trnah phá hoại làm thầy và gia đình không thể yên ổn, cả nơi ở và nơi công tác, học hành. Như mọi người trong thời chiến, hai vợ chồng nhà giáo cũng phải làm thêm đủ nghề mới đủ sống. Cô giáo Lương Hiền thì đan len. Thầy giáo Bình thì vẽ truyền thần, làm chuồng 3 tầng để nuôi chim bồ câu, gà vịt… Rồi cũng qua. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, ngọn lửa nơi trái tim người thầy vẫn cháy khôn nguôi.

Câu chuyện thứ hai: Dạy học, đó là công việc cả đời

“Chức vụ quản lí cao nhất mà tôi đã làm là tổ trưởng chuyên môn” – thầy Bình cười và nói như vậy, rất thanh thản. “Vì chỉ dạy thôi cũng đã bị cuốn lắm rồi. Để có được một tiết dạy hoàn hảo, phải đầu tư rất nhiều công sức và thời gian. Chưa kể còn bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp, từ trường đến quận, thành phố, quốc gia… Được phân công là mừng nhưng cũng lại phải lo để hoàn thành nhiệm vụ”.

Suốt hơn 40 năm dạy học, chỉ “trung thành” với cấp trung học cơ sở, thầy Bình được mệnh danh là một thầy giáo có nhiều học sinh thủ khoa nhất, cũng nhiều học sinh giỏi nhất. Thầy có đến 25 học sinh đoạt giải Toán toàn quốc , có 9 em sau này đoạt giải Toán quốc tế.

“Nhưng mừng nhất là tình cảm của học sinh dành cho mình” – thầy Bình nói. Thầy nhớ mãi em Phạm Chung Thuỷ, hoàn cảnh gia đình neo đơn, nhà xa nhưng vẫn vượt lên học giỏi, đoạt giải nhất Toán quốc gia, sau này đoạt giải Ba Toán quốc tế. Nhớ ơn thầy Bình, từ Thổ Nhĩ Kỳ xa xôi, em đã nâng niu giữ gìn để mang về tặng thầy một bộ li làm kỷ niệm. Hiện Thuỷ đang làm tiến sĩ ở Mĩ. Hay có một học sinh cũ của thầy chuyển vào công tác tại thành phố Hồ Chí Minh, gặp nhiều trắc trở cảm thấy bi quan, em đã viết thư tâm sự với thầy Bình và xin thầy lời khuyên. “Như thế là các em vẫn tin mình lắm” – thầy Bình tự hào nói.

Thầy Bình cũng có niềm vui nho nhỏ khác trong đời làm thầy, đó là có nhiều cặp mẹ – con đều là học sinh của thầy và đều học giỏi. Thầy chỉ tiếc là không có nhiều thời gian để dạy nhiều học sinh hơn nữa, theo yêu cầu của phụ huynh, dù rất nhiều người biết tiếng thầy muốn gửi con cho thầy luyện. Tuy nhiên, dù đã nghỉ hưu song thầy vẫn không thể nghỉ dạy, bởi các câu lạc bộ Toán, các lớp bồi dưỡng học sinh giỏi toán THCS… vẫn rất cần trí tuệ, kinh nghiệm và tâm huyết của thầy.

Câu chuyện thứ ba: 42 năm, 21 năm và 100 cuốn sách

Mơ ước làm thầy đã được 42 năm, nhưng thầy Bình chỉ thực sự bắt tay vào công việc viết sách một nửa số thời gian ấy. Tuy nhiên, để có được 100 cuốn sách mà cuốn nào cũng được người sử dụng rất hoan nghênh, kinh nghiệm dạy học là vô cùng quan trọng. Thầy Bình tâm sự rất chân thành: “Viết sách cho giáo viên hay cho học sinh cũng vậy, phải hiểu được họ cần gì. Muốn hiểu như vậy, phải trải nghiệm trong vị trí của họ.”.

Viết sách và dạy học là hai công việc mà thầy Bình yêu thích như nhau và quả thật, nố hỗ trợ nhiều cho nhau. Nếu chỉ đọc sách của thầy, không thể nghĩ rằng viết sách là nghề “tay trái” của thầy, bởi tính khoa học và tính sư phạm cao sâu của những cuốn sách này. Khó tìm tháy một người thầy lại có mặt trong hội đồng biên soạn sách của cả bốn khối lớp trung học cơ sở.

Thầy còn viết nhiều sách hướng dẫn dạy Toán, bồi dưỡng học sinh giỏi toán. Thầy bảo: “Dạy tốt thì giúp ích cho vài chục học sinh trên lớp. Nhưng nếu viết ra được những cuốn sách tốt thì có thể giúp cho cả trăm ngàn em”. Chả thế mà có những cuốn sách của thầy Bình đã tái bản nhiều lần với số lượng in lên đến 700.000 bản. Một kỷ lục hiếm có về sách giáo dục.

Dạy học, viết sách song song đã giúp thầy Bình cho ra đời hàng chục sáng kiến, kinh nghiệm, trong đó có 2 sáng kiến loại A và 8 sáng kiến loại B của thành phố Hà Nội. Cuốn sách thứ 100 của thầy Bình nằm trong bộ sách “Nâng cao và phát triển” với tiêu đề  “Nâng cao và phát triển Toán 9” . Những học sinh muốn học giỏi toán đều tìm đến những cuốn sách loại này do thầy Bình biên soạn.

Về hưu rồi nhưng thầy Bình vẫn cặm cụi bên những trang bản thảo để tiếp tục trải ra giấy kinh nghiệm cả cuộc đời dạy học của mình, cho nhiều thế hệ học trò hôm nay và mai sau. Đáng quý thay tấm lòng một Nhà giáo Nhân dân. Càng thêm quý hơn khi biết rằng, qua 8 lần phong tặng, trong số 189 Nhà giáo Nhân dân, duy nhất có thầy giáo Vũ Hữu Bình ở bậc trung học cơ sở.

Nguyễn Thị Trâm

HẠNH PHÚC CỦA MỘT NGƯỜI THẦY 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình.
1 comment so far

Đăng trên báo Tuổi trẻ ngày 20-11-2002

 

Cho đến ngày cuối tháng mười một này, cùng lúc nhận hai phần thưởng cao quý: Danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và Huân chương Lao động hạng Ba, thầy vẫn là một giáo viên đứng lớp ở một trường THCS. Ngày ngày, từ ngôi nhà ẩn sâu trong phố nhỏ Yên Thái (Hà Nội), thầy đến trường THCS Trưng Vương làm một thầy giáo Toán “khó tính”, một thầy chủ nhiệm “khắt khe”, còn lại bao nhiêu thời gian rảnh, thầy vùi đầu vào kho tài liệu làm một tác giả viết sách Toán đầy niệt tâm, công việc nào cũng hết lòng. Đó là hình ảnh thầy giáo Vũ Hữu Bình.

Con đường trắc trở….

Với thầy Vũ Hữu Bình, cuộc đời gắn liền với nghiệp làm thầy như một lẽ tự nhiên dù con đường đến với nghề chẳng dễ dàng gì. Hơn 40 năm trước, sau khi tốt nghiệp trường cấp III Chu Văn An (Hà Nội), thầy Bình nộp đơn vào trường Đại học Sư phạm Hà Nội với ý nguyện duy nhất là trở thành một thầy giáo. Nhưng ý nguyện ấy chưa thể thực hiện được. Lí lịch gia đình đã khép lại cánh cửa trường Đại học sư phạm trước cậu học sinh xuất sắc đỗ đầu trong mấy trăm học sinh khoá 1961 của trường trung học phổ thông danh tiếng nhất Hà Nội.

Ý nguyện không thành nhưng ước mơ thì không thể mất đi. Với sự giúp đỡ của một thầy giáo cũ, thầy tìm được một con đường khác để đến với nghề: tham gia một khoá đào tạo giáo viên cấp tốc ba tháng rồi về dạy Toán ở một trường cấp II ngoại thành. Rồi sau đó, một phàn tự học, mọt phần cứ vài ba năm lại tìm kiếm cơ hội đi học tiếp để nâng cao chuyên môn sư phạm. Nhớ lại, thầy vẫn bảo “mình còn may vì lúc đó ngoại thành đang thiếu giáo viên lắm, nếu không thì đâu có cơ hội được làm thầy giáo..”. 14 năm sau ngày đứng trên bục giảng, thầy Bình mới hoàn thành con đường vòng vèo đó, có được tấm bằng đại học sư phạm tại chức vào năm 1975, vượt qua những năm tháng chíen tranh Hà Nội bị bom Mĩ đánh phá, trường sở luôn sơ tán, cuộc sống chung riêng đầy khó khăn….

Năm 1983, thầy giáo Vũ Hữu Bình bắt tay vào viết những cuốn sách toán đầu tiên. Âm  thầm cần mẫn thu lượm, nghiên cứu và viết…, có năm thầy hoàn thành tới 10 cuốn sách khác nhau. Trong vốn liếng 88 cuốn sách về dạy và học Toán đã có đủ các thể loại: sách hướng dẫn học Toán, sách bồi dưỡng học sinh giỏi, sách tham khảo cho giáo viên, sách giáo khoa (SGK)… Riêng bộ sách Một vấn đề phát triển Toán THCS gồm 8 cuốn đã được tái bản nhiều lần, phát hành tới 700.000 bản – con số hiếm hoi đối với những cuốn sách tham khảo. Nhiều thế hệ thầy và trò trong cả nước sử dụng bộ sách này cứ đinh ninh là của một nhà nghiên cứu giáo dục chuyên nghiệp chứ không phải sản phẩm “tay trái” của một thầy giáo dạy toán bình thường, trực tiếp đứng lớp. Còn thày cho rằng kinh nghiệm giảng dạy chính là vốn liếng, thế mạnh của mình để viết những cuốn sách sát với thực tế dạy và học, sát với khả năng nhận thức của học trò.

Trong cuộc đời hơn 40 năm đứng trên bục giảng, có thể nói thầy Vũ Hữu Bình đã có tất cả những phần thưởng vinh quang nhất dành cho nghề giáo. Nhưng với riêng thầy, vốn quý nhất là “khá nhiều thế hệ học sinh đã qua tay tôi dạy dỗ và 88 cuốn sách mà tôi đã viết”. Nói về nghề, về mình, thầy bảo toàn những việc làm bình thường, những kết quả bình thường. Nhưng chính những điều bình thường, giản dị đó đã hình thành một nhân cách nhà giáo mẫu mực.

Cái khó của …người tận tâm

40 năm miệt mài với nghề, chuyên môn vững vàng, nhưng “chức” to nhất của thầy là Tổ trưởng Tổ tự nhiên của trường THCS Trưng Vương (Hà Nội). Bởi theo thầy, “sung sướng nhất là được làm thầy, đứng trên bục giảng cho đến ngày nghỉ hưu”.

Theo thầy Vũ Hữu Bình, làm thầy giáo đã không dễ, làm thầy giỏi đã khó, làm thầy tốt, tận tâm với nghề, với trò càng khó hơn. Ở hà Nội, nói đén thầy Bình “Trưng Vương”, những người biết thầy thường “chú”thêm một câu “thầy chẳng bao giờ dạy thêm” – một điều lạ với lối nghĩ thông thường về một thày giáo giỏi nổi tiếng, dạy ở một trường nổi tiếng và ở một nơi cũng nổi tiếng …về dạy thêm, học thêm. Lí do: thầy đã dành trọn thời gian cho việc nghiên cứu, viết SGK, các loại tài liệu phục vụ dạy và học môn Toán ở phổ thông – một công việc nhạy cảm, đòi hỏi trách nhiệm rất cao mà quyền lợi vật chất chẳng đáng là bao, chỉ vì một lẽ đơn giản: “Nếu trực tiếp dạy trên lớp tốt, một người thầy cũng mới chỉ giúp cho vài chục học sinh. Nhưng nếu viết ra những cuốn sách tốt có thể giúp cả trăm ngàn học sinh.”. Tâm huyết ấy thầy gửi vào những trang SGK Toán từ lớp 6 đến lớp 9 đang được biên soạn phục vụ đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông. Có lẽ hiếm có tác giả viết SGK nào có mặt trong cả bộ SGK bốn lớp bậc THCS mới như thầy Vũ Hữu Bình. Bận rộn là thế, nhưng thầy sẵn sàng trả lời những lá thư củat các giáo viên trẻ, của học trò từ khắp mọi miền gửi về nhờ chỉ dẫn, bày vẽ thêm về cách dạy và học Toán.

Năm tháng trôi qua, danh hiệu Giáo viên dạy giỏi cấp thành phố, Người tốt việc tốt, Giải thưởng Toán học Lê Văn Thiêm, bằng khen về viết SGK, danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo Nhân dân, Huân chương lao động …. những phần thưởng ngày càng nhiều trong tủ. Nhưng thầy bảo niềm tự hào thật sự của mình là đây: Những học sinh đã đoạt giải quốc gia và ssu này giành giải trong các kì thi Olympic quốc tế, là những học sinh đỗ thủ khoa hai trường đại học, những giáo viên trẻ được thầy dìu dắt trưởng thành trong chuyên môn… Và cuối cùng là những lá thư đầy tâm huyết của những đồng nghiệp trẻ muốn được chia sẻ cùng thầy những ưu tư nghề nghiệp, dù chưa một lần gặp mặt. Nhưng họ gặp nhay ở một tấm lòng….

Thanh Hà

TRONG TRUYỀN THỐNG TRƯNG VƯƠNG 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình.
add a comment

Đăng trên báo Hà Nội mới ngày 13-11-2002

 

Ở tuổi 85, trường THCS Trưng Vương đã thêm vào truyền thống vẻ vang của mình một phần thưởng cao quý: Huân chương độc lập hạng Ba. Có được thành tóch xuất sắc đó là sự nỗ lực của nhiều thế hệ giáo viên, một trong nhiều tên tuổi tiêu biểu là thầy Vũ Hữu Bình, người đã có gần 30 năm gắn bó với trường và vừa được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân.

 

Xin chức mừng ông vì những danh hiệu cao quý mà ông đã và có thể sắp được trao: Nhà giáo Nhân dân, Huân chương Lao động hạng Ba. Nhưng có lẽ với ông chữ “Thầy” viết hoa mà bao thế hệ học sinh vẫn kính trọng khi viết về ông là phần thưởng lớn nhất? Qua cuộc đời dạy học của mình ông nói gì về nghề làm thầy?

Trong việc giảng dạy và giáo dục của giáo viên đối với học sinh, bên cạnh việc truyền thụ kiến thức văn hoá và hiểu biết khoa học để sau này các em có hành trang bước vào cuộc sống, có một điều rất quan trọng là giáo dục cho các em về đạo làm người, về mối quan hệ thầy trò, tình bè bạn. Muốn làm được điều đó trước hết người thầy phải cố gắng hiểu, thông cảm với các em và biết chờ đợi sự tiến bộ của các em. Có những học sinh THCS rất hiếu động, nếu đánh giá ý thức kỷ luật thì có thể xếp loại thấp nhưng chính các em lại có những ưu điểm mà nếu người thầy biết tìm thấy, biết phát huy, động viên thì các em sẽ tiến bộ và trở thành con người khác hẳn. Trong cuộc đời dạy học, tôi đã từng gặp nhiều học sinh như vậy. Tôi đã cố gắng hiểu và động viên các em đó phát huy ưu điểm của mình trong tập thể. Có em S là một học sinh rất nghịch, nhưng lại đá cầu giỏi, chơi bóng bàn tốt và học khá. Tôi đã động viên em phát huy sở trường của mình và cũng phải chờ đợi sự tiến bộ của em vì nhiều khi em hứa sửa chữa khuyết điểm nhưng rồi lại mắc. Sau đó em đã học tốt, được đi thi học sinh giỏi và còn viết bài cho Tạp chí Tự học được đánh giá cao. Em đã viết tặng thầy bốn câu thơ:

Thầy khuyên em gắng sức

Bình tĩnh và tự tin

Muôn ngàn kỷ niệm đẹp

Tuổi học trò không quên.”

với dụng ý tặng tôi bốn chữ đầu của bài thơ đó.

Gắn bó với trường từ năm 1973, theo ông cái gì làm nên “chất” Trưng Vương?

Trưng Vương luôn có một tập thể gắn bó, đồng tâm hiệp lực, vì thế hệ trẻ và vì truyền thống của trường. Các thế hệ đi sau luôn biết học tập và noi theo thế hệ đi trước. Thế hệ trước về nghỉ, thế hệ sau tiếp bước, không có sự hẫng hụt về đội ngũ. Trường có một Ban giám hiệu đoàn kết, tâm huyết về đều trưởng thành từ giáo viên giỏi nên rất am hiểu chuyên môn. Cô Ngân hiệu trưởng, cô Tuyết, thầy Chiến hiệu phó đều là giáo viên dạy giỏi môn Toán và Văn. Các anh chị rất chân tình, gương mẫu, nên anh chị em trong trường rất tự giác tham gia các hoạt động của trường, có những lúc làm quên ngày đêm, coi đó làg việc chung, là sự đóng góp tự nguyện của mình cho tập thể. Có một nét riêng nữa: Các giáo viên ở dây rất say sưa nghiên cứu khoa học. Rất hiếm có một tập thể chịu khó nghiên cứu khoa học giáo dục như trường tôi. Riêng năem hcọ 20000 -2001 trường có 28 sáng kiến được thành phố xếp loại, trong đó có 1 loại A cấp thành phố, 6 thầy cô đã có kinh nghiệm được đăng trên tạp chí chuyên môn của ngành, 3 người đã báo cáo tại hội thảo toàn quốc về đổi mới phương pháp dạy học, 6 giáo viên của trường là tác giả và đồng tác giả các cuốn SGK, sách tham khảo, 23 người tham gia viết SGK mới, nhiều người tham gia các hội đồng thẩm định sách…. Năm qua, trường đã có phong trào sử dụng phần mềm tin học để thiết kế bài giảng và khá nhiều giáo viên trẻ nhiệt tình tham gia. Các phần mềm này dã dược đưa vào giảng dạy và đạt hiệu quả dạy học cao. Các phong trào thi đua như “Khám phá bímật điểm 10”, “Thế nào là say mê sáng tạo”… góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, cũng là kết quả của những nghiên cứu, tìm tòi cuả lãnh đạo nhà trường và tập thể giáo viên. Với một tập thể như thế, chắc chắn trong những năm tới trường Trưng Vương sẽ tiếp tục phát huy truyền thống của mình và đạt nhiều thành tích mới.

Năm học này sẽ là năm cuối cùng trong cuộc đời dạy học của ông. Sau khi  nghỉ chắc ông sẽ có thời giờ dành cho học sinh không phải của Trưng Vương?

Tôi sẽ vẫn tham gia dạy một số tiết cho đối tượng học sinh giỏi của trường Trưng Vương và dành phần lớn thời gian cho việc viết sách. Còn với những học sinh muốn học tôi, tôi cũng sẽ cố gắng. Tôi nghĩ rằng, tôi đã dành cho các em những gì tôi biết về môn Toán qua rất nhiều cuốn sách mà các em đã và sẽ học. Đó là cách học có hiệu quả nhất.

 

Tiếp xúc,  trò chuyện và dự các giờ giảng của thầy Vũ Hữu Bình cũng như nhiều thầy cô giáo Trưng Vương khác, có thể thấy họ thực sự là những nghệ sĩ trên bục giảng và hiểu vì sao Trưng Vương có được truyền thống hôm nay.

Kim Thoa (thực hiện)

NHÀ GIÁO VŨ HỮU BÌNH – BỀN BỈ MỘT TÂM HUYẾT LÀM THẦY 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình.
add a comment

Đăng trên báo Giáo dục và thời đại Chủ nhật,

số đặc biệt 20-11-2002

 

Từ năm 1961, khi mới bắt đầu vào tuổi mười tám, đôi mươi, nhà giáo Vũ Hữu Bình đã đứng trên bục giảng trường cấp hai. Cho đến hôm nay, đã hơn 40 năm trôi qua, ông vẫn miệt mài đứng trên bục giảng ấy. Bao lớp học trò kế tiếp nhau, đã ngồi nghe ông giảng, nhận từ ông không chỉ kiến thức Toán học, mà cả những bài học về đạo đức, về lối sống, cách hành xử khiêm nhường, rồi lớn lên, thành công trong học vấn, đi ra đóng góp với xã hội, Người thầy mái tóc mướt xanh ngày nào, giờ đã pha sương mà vẫn bền bỉ một tâm huyết có từ thời trai trẻ.

Những học trò đã học thầy Bình, mấy chục năm đã trôi qua rồi, khi nhắc đến ông, chỉ nói với nhauy một từ “Thầy”: “Thầy đã nói…”, “Thầy dạo này…” thế là cùng hiểu mình đang nhắc về thầy Vũ Hữu Bình hết mực yêu kính ngày nào. Vũ Hữu Bình chỉ dạy Toán ở cấp hai, ở trường trung học cơ sở thôi, hơn chục năm đầu là mấy trường trường bên huyện Gia Lâm, từ năm 1973 đến nay thì dạy ở trường THCS Trưng Vương (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), mà sao tên ông lại được nhiều người trong nước, rồi cả ngoài nước biết đến nhiều thế? Là bởi vì ông dạy giỏi, sáng tạo, là bởi vì ông nhiều tâm huyết, hết lòng yêu thương học trò, vì thế mà ông truyền được cho học trò say mê học tập, kiến thức và nhân cách. Học trò thầy Vũ Hữu Bình học giỏi, rất nhiều em học lên nữa, đi thi thành thủ khoa các trường đại học, đoạt nhiều giải thưởng cao quý ở các cuộc thi tài quốc tế cũng như trong nước, rồi sau đó tiếp tục thành công trên những bước đường học tập và công tác. Aui cũng tự hào, sung sướng nhận mình là học trò cũ của thầy Bình, rồi kể về người thầy học cũ với những dòng hồi ức trong lành, rưng rưng và lan toả…

Mà không chỉ những học trò trực tiếp được học ông. Có thể gọi Vũ Hữu Bình là một trong những nhà giáo có nhiều học trò nhất hiện nay. Vì ngoài tâm sức dành cho những học trò ở lớp mình dạy, ông còn dành phần thời gian và tâm sức rất lớn soạn những cuốn sách giáo khoa, sách tham khảo, chủ yếu do Nhà xuất bản giáo dục phát hành, dành cho những lứa học sinh như học trò trực tiếp của ông, dành cho những đồng nghiệp của ông để họ có thêm kinh nghiệm dạy học trò của mình.  Có biết bao nhiêu học sinh chưa hề gặp thầy Vũ Hữu Bình, chỉ đọc sách của thầy, viết thư cho thầy xin được nhận là học trò, mãi mãi biết ơn thầy vì những bài học nhận được từ những trang sách của thầy. Và thầy Vũ Hữu Bình cũng không quản ngại, nếu điều kiện cho phép, sẵn sàng trả lời tỉ mỉ, chu đáo qua thư cho những học sinh không quen biết viết gửi tới ông hỏi về một bài toán bất kỳ nào đó. Nếu đó là một thắc mắc có thể nhiều học sinh băn khoăn thì thầy Bình sẽ thực hiện “bài giảng” thông qua một tờ báo, như tờ “Toán học và tuổi trẻ” chẳng hạn. Nhà giáo Vũ Hữu Bình đã được một tờ báo chuyên ngành giáo dục phong kỷ lục “Thầy giáo của nhiều thủ khoa nhất”. Đến nay, Vũ Hữu Bình đã cho xuất bản tới 88 cuốn sách giáo khoa và sách tham khảo với tư cách là tác giả, đồng tác giả hoặc chủ biên. Trong số đó, có những đầu sách như bộ “Một số vấn đề phát triển Toán THCS” đã được in tới 70 vạn bản. Ông đã được Bộ giáo dục tặng Bằng khen về những đóng góp lớn trong việc viết sách giáo khoa.

Là một nhà giáo giỏi chuyên môn, có uy tín rất cao đối với đồng nghiệp, phụ huynh cũng như học sinh, ông lại có lối sống cũng như tác phong chan hoà, gần gũi với mọi người. Say mê với chuyên môn nhưng ông vẫn dành thời gian tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố khoá 7, Hội đồng nhân dân quận Hoàn Kiếm khoá 11 và 12. va fhiện nay ông vẫn đang là một hạt nhân đoàn kết và thi đua, phát huy vai trò lãnh đạo trong cương vị là Bí thư chi bộ trường THCS Trưng Vương trong nhiều khoá liền.

Nhà giáo Vũ Hữu Bình đã được Hội Toán học Việt Nam trao tặng Giải thưởng Lê Văn Thiêm. Ông cũng đã được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú ngay đợt đầu tiên (1988). Năm 2002 này, ông đang được đề nghị Nhà nước xét phong tặng danh hiệu cao quý Nhà giáo nhân dân.

Những danh hiệu khác nữa rồi sẽ đến với ông. Nhưng có lẽ phần thưởng cao nhất chính là sự thành đạt của lớp học trò, tình cảm biết ơn chân thành của họ đối với ông, là những phút giây ông thư thái trong ngôi nhà ấm cúng, thuận hoà, con cái thành đạt của mình, sau những nỗ lực cống hiến vì sự nghiệp trồng người. Phần thưởng ấy thì ông đã được nhận xứng đáng từ lâu rồi. và ông sẽ được tiếp tục nhận những niềm vui như thế nữa, bởi ông vẫn đang tiếp tục cống hiến.

Nguyễn Thành Phong

NHỮNG NGHỆ SĨ TRÊN BỤC GIẢNG 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình.
add a comment

Đăng trên báo Lao động ngày 20-11-1998

 

Một người thầy của các học sinh đoạt Huy chương vàng quốc tế, một người thầy của các thủ khoa và một người thầy của các tài năng tin học, ở họ, ngoài những phẩm chất tiêu biểu của nghề giáo còn có một điều gì đó, một sức hấp dẫn không định nghĩa được. Có thể là lấp lánh của trí tuệ, sự ấm áp của đạo thầy trò hay là sự hứng khởi sáng tạo… Người ta gọi họ là những nghệ sĩ trên bục giảng.

Hồi trước, thầy vẫn nói….

Như là rất có duyên với các thủ khoa, thầy Vũ Hữu Bình vốn là thủ khoa của trường Chu Văn An năm 1961, đã trở thành người thầy của rất nhiều thủ khoa sau này. Ngay trong năm 1998, 5 học trò cũ của thầy đã đoạt 6 danh hiệu thủ khoa của 6 trường đại học: Phạm Hoàng Long, thủ khoa trường Đại học Ngoại giao; Hoàng Trà Mi, thủ khoa trường đại học Ngoại thương; Trần Bằng, thủ khoa 2 trường đại học Bách khoa Hà Nội và đại học giao thông vận tải; Bùi Mạnh Hải, thủ khoa trường đại học quản trị kinh doanh; Trần Chí Hiếu, thủ khoa trường đại họcThăng Long.

Thầy Vũ Hữu Bình, chủ nhiệm lớp chuyên Toán của trường THCS Trưng Vương, là giáo viên dạy giỏi liên tục nhiều năm liền, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú từ đợt đầu tiên năm 1988, được tặng Bằng lao động sáng tạo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam. Không chỉ giảng dạy, thầy Bình còn là người biên soạn sách giáo khoa nổi tiếng. Thầy đã viết hơn 70 cuốn SGK và sách tham khảo cho học sinh và giáo viên, được Bộ GD-ĐT tặng Bằng khen về thành tích này cùng với các GS Hoàng Xuân Sính, Đoàn Quỳnh, Hoàng Chúng….. Nhưng hơn tất cả, thành tích lớn nhất mà thầy rất mực tự hào là chữ “THẦY” viết hoa trong lòng những học sinh thân yêu của mình. Phan Thị Trà Min, 8 năm sau khi tốt nghiệp lớp của thầy, vào lúc sóng gió của cuộc đời mình dã viết: “Thầy ơi! Chúng em viết thư cho nhau ít khi phải gọi tên thầy. Chỉ cần viết “Thầy dạo này…”. “Hồi trước thầy vẫn nói…” là tất cả dều hiểu đang viết về ai. Em cảm ơn thầy đã cho em niềm tin vào cuộc đời.

Dạy rất giỏi, rất sáng tạo nhưng điểm quan trọng đầu tiên trong quan niệm giáo dục của thầy là tình thương yêu, tôn trọng đối với học sinh. Thầy bảo, học sinh vào cấp II vẫn còn như một tờ giấy trắng, người thầy không chỉ có nhiệm vụ khơi dậy trong lòng học sinh niềm say mê khoa học mà còn cả nữhng phẩm chất để sau này trở thành những người lao động tốt. Trần Chí Hiếu, thủ khoa trường Đại học Thăng Long nói: “Thầy tuyệt vời lắm, không thể nói điều gì hơn được”. Để có được đánh giá đó, thầy Bình nói rằng người thầy khi đã chọn nghề giáo phải chấp nhận những hi sinh, phải giữ mình như một tấm gương. Mặc dù vai trò của người thầy ngày nay không còn như xưa, khi học trò chỉ học có một thầy. Học trò ngày nay học nhiều thầy, học bằng nhiều phương tiện thông tin khác nhay, nhưng cho dù ở thời nào thì người thầy vẫn phải là tấm gương cho học trò. Nghề giáo là nghề dạy con người nên không thể có sự mua bán sòng phằng như các nghề khác được. Nếu nhà giáo để bị quá nghèo hay nhà giáo mà lại quá giàu thì đều là việc bất bình thường. Thầy Bình mong muốn rằng, ngành giáo dục cần phải chú trọng hơn nữa vào việc bồi dưỡng dạo đức con người thầy.

Chính thầy Bình đã áp dụng phương pháp nhắc nhở, kỉ luật hoặc khen thưởng thường xuyên đối với học sinh của mình và rất có kết quả. Hoàng Trà Mi, thủ khoa trường Đại học ngoại thương kể lại: “Thầy định ra một điểm 10 đàu tuần cho mỗi học sinh. Trong suốt tuần đó, số điểm sẽ được tăng lên hoặc giảm đi tuỳ theo mức độ kỷ luật mà học sinh thực hiện trong tuần đó. Chỉ thế thôi mà bọn em sợ lắm, đứa nào cũng phải cố gắng. Bây giờ nhìn lại, chúng em thật là biết ơn thầy”.

Thay cho lời kết..

Không chỉ có các tài năng của đất nước, các học sinh đoạt huy chương vàng quốc tế và các thủ khoa, mà chắc chắn rằng trong lòng mỗi chúng ta đều có một chữ “Thầy” viết hoa. Với tấm lòng biết ơn vô hạn, nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11, xin gửi tới các thầy cô giáo những lời nói chân thành nhất. Có thể đó là của các học sinh trường Hà Nội – Amstecđam, trường Chu Văn An, trường Lê Hồng Phong hay của bất cứ một ngôi trường nào trên đất nước: “Thầy mãi mãi là người chúng tôi đều yêu mến và kính trọng”; “Đây là người thầy để lại cho tôi nhiều ấn tượng nhất. Phải nói là thầy tuyệt vời”, “Chỉ tiếc là không được học thầy sớm hơn, thầy là người mà tôi kính trọng và yêu quý nhất”, “Thầy ơi, em rất biết ơn thầy…”.

Bích Hà.

TẠO NIỀM TIN CHO HỌC TRÒ 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình.
add a comment

Đăng trên báo Nhân dân ngày 15-11-1994

 

Mới đây, có dịp trò chuyện với các em học sinh lớp 9H (lớp chuyên Toán) của trường THCS Trưng Vương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), tôi thầm khen các em thông minh, lễ phép và rất “người lớn” trong những câu chuyện kể. Bất cứ là chuyện học, chơi đến những chuyện giúp đỡ bạn …, các em đều nhắc hai chữ “thầy em” với tình cảm đặc biệt. Các cô bé, cậu bé rất thích khoe với thầy niềm vui và rất buồn phiền nghĩ rằng thầy không vui nghĩ về những điều chưa tốt của mình. Tôi nhớ lại lời tâm sự của cô sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh là học trò cũ của thầy Bình: “Em cảm ơn thầy đã cho em niềm tin vào cuộc đời”. Nhiều vị cha mẹ ước ao con mình được thầy Bình dạy dỗ. Bời vì không chỉ dạy Toán giỏi, thầy Bình còn là nhà giáo hiền hoà, mẫu mực, nhạy cảm và tinh tế trong phương pháp sư phạm.

Tìm thăm thầy Vũ Hữu Bình tại nhà riêng vào lúc đêm đã khuya, tôi cảm động gặp vơ chồng anh – cả chị cũng là giáo viên, miệt mài bên trang giáo án. Vợ anh kể rằng, nhiều đêm anh thức cùng ngọn đèn để viết cho xong từng chương trình giáo khoa kịp cho học sinh sử dụng. Soạn thảo, nghiên cứu, viết sách đối với anh là một nhu cầu không thể thiếu. Mọi người biết tiếng thầy Bình dạy giỏi Toán, biết thầy viết sách giáo khoa cho học sinh, nhưng ít ai ngờ, số đầu sách anh đã viết và cộng tác với các bạn đồng nghiệp thật đáng kính nể đến thế. Các sách giáo khoa riêng anh viết đã xuất bản gồm có 12 cuốn cho học sinh chuyên Toán, học sinh lớp chọn, học sinh phổ thông và 19 cuốn anh viết chung với các bạn đồng nghiệp. Tôi chợt nhớ, trước ngày khai giảng, có một người cha từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội chỉ canh cánh tìm mua làm quà cho con gái một cuốn sách “Một số vấn đề phát triển Toán 6” bằng được. Nếu cửa hàng sách giáo khoa không có bán, nhất thiết phải mua ngoài dù giá đắt! Giờ tôi mới biết cuốn giáo khoa đó do thầy Bình soạn.

Hỏi về khoá học sinh cũ vừa qua, khoá 20 chuyên Toán (1987 – 1991), anh cho biết khoá này đã gặt hái những kết quả rực rỡ: Ngoài các em Phạm Hồng Kiên và Phạm Chung Thuỷ đạt giải Nhì và giải Ba Toán quốc tế ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 1993, trong hè năm 1994 vừa rồi các em Nguyễn Quý Tuấn và Nguyễn Duy Lân đạt giải Nhì Toán quốc tế ở Hồng Kông, em Trần Thị Linh Châu đạt giải Nhì Tin học quốc tế ở Thuỵ Điển, em Trần ngọc Khanh đạt giải Khuyến khích Lí quốc tế ở Bắc Kinh. Một lớp học có 6 học sinh đạt giải quốc tế.

Hỏi về công việc của thầy chủ nhiệm, anh cười hiền hậu: “Năm học 1994 – 1995 này là năm cuối cấp, các em phải tập trung rất nhiều cho kì thi cuối năm. Trước mắt là chuẩn bị chọn lựa đội tuyển học sinh giỏi cấp quận vào cuối tháng 11. Tôi hi vọng về một số em có khả năng đoạt giải môn Toán và môn Lí”. Anh cho biết học trò của anh đề ra mức phải phấn đấu là 90% số học sinh trong lớp đạt loại giỏi trong kỳ thi cuối cấp, trong đó phải giỏi về môn ngoại ngữ.

33 năm dạy học và viết sách giáo khoa, anh là hình ảnh đẹp, không bao giờ phai mời trong kí ức các thế hệ học trò, dù là những người hôm nay thành đạt, họ luôn luôn nhắc nhở về thầy giáo Bình với tình yêu giản dị. Cùng với tháng năm, mái tóc điểm bạc, nhưng anh vẫn lao động say sưa bằng tâm hồn, sức lực của tuổi trẻ. Và chính từ anh, nhiều lớp trẻ vào đời mang theo ý chí, tính cách của thầy Bình.

Hạnh Trang

CÓ MỘT NGƯỜI THẦY ….. 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình.
add a comment

Đăng trên báo Quân đội nhân dân ngày 8-9-1992

 

Kim đồng hồ chỉ giữa con số 12 và số 1 mà thầy Vũ Hữu Bình vẫn chưa về nhà. Anh đang cùng các đồng nghiệp bận rộn chuẩn bị cho ngày khai trường. Năm học 1992-1993 này, trường PTCS Trưng Vương kỷ niệm 75 năm ngày thành lập nên các thầy cô càng bận bịu.

Biết anh từ 10 năm trước, hình ảnh người thầy hiền từ, khiêm tốn luôn nhắc nhở tôi. Mỗi lần gặp lại, tôi tìm thấy ở anh nét tiềm ẩn của một tâm hồn giản dị, giàu sáng tạo, không ngơi tìm tòi, hết lòng với nghề. Hơn 30 năm dạy học và không ngừng tự học vươn lên, anh phấn đấu trở thành giáo viên giỏi toán phổ thông, được đồng nghiệp và phụ huynh học sinh kính trọng. Học trò của nhiều trường trong thành phố ao ước được học Toán thầy Bình. Các em yêu quý thầy ở phong cách khoa học, nghiêm túc và độ lượng. Nhiều em nhà ở tận Nghĩa Đô, Thanh Xuân, Nghi Tàm… mến mộ thầy đã không quản mưa gió, rét mướt hàng ngày hai lần theo xe buýt đến học thầy. Em Phạm Chung Thuỷ đoạt giải nhất Toán lớp 9 toàn quốc năm học 1990-1991 là một ví dụ. Học trò lớp chuyên toán của thầy Bình nhắc nhau tự giác học tập và sống khoa học, ngăn nắp không để thầy phiền lòng.

Sau chuyến tham gia đoàn giáo viên chuyên Toán Việt Nam đi thăm nước Pháp (năm 1989), anh càng thương quý các học trò hiếu học của mình. So sánh điều kiện sống, dạy và học của hai nước, các giáo viên và học sinh người Pháp khâm phục kết quả cao về học tập văn hoá, trong đó có môn Toán của học sinh Việt Nam. Niềm vui đó an ủi, khích lệ thầy khắc phục khó khăn, sống cuộc sống thanh bạch, toàn tâm toàn ý với nghề.

Trong khi đợi thày Bình, tình cờ chúng tôi gặp được anh Đỗ Đức Thái, hiện là cán bộ giảng dạy khối chuyên Toán, trường đại học sư phạm Hà Nội. Anh là học trò cũ của thầy Bình đã đoạt giải ba Kỳ thi Toán quốc tế năm 1978. Nhân biết nhà trường chuẩn bị kỉ niệm tuổi 75, anh Thái cùng các bạn học cũ tìm về thăm thầy chủ nhiệm với mong muốn được góp một phần với buổi lễ hội của trường. Sau lớp Đỗ Đức Thái, nhiều học sinh lớp thầy Bình chủ nhiệm đã tham dự và đoạt giải các kỳ thi Toán trong nước và quốc tế. Điển hình là các em : Bùi Hải Hưng, giải Nhì Toán quốc tế năm 1989. Kỳ thi Toán quốc tế năm 1986 có Hà Anh Vũ đoạt giải Nhất và Nguyễn Tuấn Trung đoạt giải Ba.

Năm học 1992 – 1993, lớp 7 chuyên toán của thầy Bình chủ nhiệm có 28/35 em là học sinh cũ. Những ngày này, các em tiếp tục được học thầy mừng vui hớn hở. Còn các em không đủ điểm, đến chào thầy với lời hứa quyết tâm học để kì thi sang năm được trở lại lớp của thầy.

*

*     *

Tiếng trống ngày khai trường đã điểm rộn rã…Trước lớp học trò ngoan, thầy Bình cười hiền hậu: “Tôi chẳng có gì để nói. Tất cả những gì tôi có là ở các em…”. Trong nắng thu, khăn quàng đỏ trên vai các em như thắm màu hơn. Anh Bình âu yếm nhìn các trò nhỏ của mình không nói gì, nhưng đôi mắt anh, công việc và tấm lòng đầy nhiệt huyết của anh đã nói rất nhiều. Có tiếng lao xao bên tôi:

– Thầy Bình kia kìa! Thầy Vũ Hữu Bình, Nhà giáo Ưu tú đấy.

Tôi nhìn theo dáng thầy cùng học trò vào lớp, nghĩ về một nghề, nghĩ đến lời anh tâm sự: “Nghề chúng tôi không cho phép ra đời những sản phẩm không có chất lượng. Chúng tôi tin sẽ làm được như thế…”.

 

Chu Hiền Thanh

GẶP GỠ THẦY GIÁO VŨ HỮU BÌNH 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình.
2 comments

(Dịch từ Báo ảnh Việt nam số 9/1992, bản tiếng Anh)

 

Năm học mới đang tới gần. Các nam nữ học sinh sau ba tháng nghỉ hè ở thôn quê, đang trở về nhà bắt đầu một năm học mới. Bãi biển và những điều kỳ diệu đã khép lại, buồn chia tay và hi vọng sẽ được gặp lại chúng.

Theo thống kê của Bộ giáo dục và đào tạo, năm học 1992-1993 số học sinh cấp I lên tới trên 9 triệu, trường cấp II có gần 3 triệu và trường Trung học có khoảng nửa triệu học sinh.

Vũ Hữu Bình – một thầy giáo trường Trưng Vương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, đã bắt đầu sự nghiệp dạy học của mình vào năm 1961. Thầy nói: “Dạy học là truyền lại những kiến thức và tìm ra những tài năng trẻ để đào tạo”.

Dần dần một hệ thống lớp “A” được hình thành để đào tạo những học sinh có năng khiếu với trình độ cao. Gần đây một số lớp “đặc biệt” và lớp “chọn” được thành lập ở trường PTCS để phát hiện và bồi dưỡng những tài năng trẻ. Thầy giáo Vũ Hữu Bình rất sung sướng được bổ nhiệm dạy Toán những lớp này.

Từ năm 1974, 40 trong số học sinh của thầy đã thi Toán quốc gia, 22 trong số đó đã đạt giải quốc gia và 3 học sinh đạt giải quốc tế. Rất nhiều học sinh của thày đã tiến xa trên con đường toán học và đã viết cho thầy bày tỏ tấm lòng mình “Chính thầy là người dìu dắt lòng say mê của chúng em về toán học”. Có học sinh viết: “Thầy đã khám phá ra mầm mống toán học trong em”.

Ngoài việc dạy học thêm trên lớp, thầy Bình còn ham mê biên soạn sách… Thầy đã soạn thảo rất nhiều sách gồm “Một số vấn đề phát triển môn Toán” (8 quyển), “Toán bồi dưỡng kĩ năng học sinh”, “Các bài tập và chuyên đề về tam giác”. Thầy Bình đã nhận lời mời của trường Hen-ri IV sang thăm nước Pháp, dự 20 tiết, các tiết đó giúp thầy khẳng định “người Pháp trân trọng những cái mới trong khi vẫn duy trì những truyền thống đã có”.

Toán học chắc chắn sẽ có một tương lai sáng chói ở Việt Nam sản sinh ra những tài năng trẻ và sự say mê toán học của họ.

Bài: Như Thiết – Ảnh: Ngô Dư


NHÂN NÀO QUẢ ẤY 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình.
add a comment

Đăng trên báo Giáo viên nhân dân ngày 16-11-1987

 

Nhà giáo Vũ Hữu Bình, giáo viên giỏi trường PTCS Trưng Vương, Hà Nội, ở hẻm trong cùng ngõ Tức Mạc. Cái ngõ chẳng thích hợp chút nào với những người kiếm sống bằng nghề buôn bán, dịch vụ, nhưng thật “lý tưởng” với các gia đình nhà giáo.  Anh khéo chọn một nơi ở tuyệt vời – tôi nhìn ngắm khắp căn phòng và mỗi lúc càng ngạc nhiên hơn vì không khí tĩnh lặng và “cái chất nhà giáo” toát ra từ sự bài trí, sắp đặt hết sức ngăn nắp, gọn gàng, giản dị của các đồ vật trong nhà.

–                           Tôi mới chuyển về đây từ năm 1977 – anh Bình nói – Trước đấy goa đình tôi ở Hàng Bông. Bốn vợ chồng con cái tôi sống gọn trên một cái giường đôi…

–                           Vậy là anh cũng có những ngày hàn vi, sóng gió?

–                           Không biết có phải sóng gió không nhưng đúng là tôi vào nghề dạy học chẳng suôn sẻ chút nào. – Anh Bình kể – Năm 1961, tốt nghiệp lớp 10, tôi được đi học một lớp sư phạm cấp tốc ba tháng để về dạy Văn – Sử – Địa tại trường cấp II thị trấn Gia Lâm. Nhưng rồi, do yêu cầu của nhà trường cần giáo viên dạy khoa học tự nhiên, hè 1962 tôi lại xin đi học một lớp cấp tốc ba tháng nữa và trở thành giáo viên dạy các môn Toán – Lý. Từ năm 1961 đến năm 1986 là  cả một thời kỳ tôi vừa dạy vừa học. Ở Gia Lâm vừa đi sơ tán vừa học. Về Trưng Vương vừa dạy lớp chuyên Toán của quận, của thành phố, vừa học. Năm 1965, học lớp trung cấp nông nghiệp sáu tháng để dạy kiêm bộ môn kỹ thuật nông nghiệp. Năm 1968, từ trường Lệ Chi, cách Hà Nội 23km, hàng tuần tôi đạp xe về trường theo học lớp hàm thụ đại học sư phạm tại chức môn Toán. Năm 1975, tiếp tục học các chuyên đề của chương trình đại học năm thứ tư để đạt trình độ đại học hệ bốn năm. Cũng trong thời gian ấy, tôi tự học tiếng Nga và tiếng Pháp để có vốn liếng sử dụng sách và tài liệu nước ngoài. Năm 1979,

… (còn 1 trang chưa gõ xong… nkcuong)

TỪ YÊU NGHỀ ĐẾN DẠY GIỎI 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Báo chí viết về thầy Bình.
add a comment

Đăng trên báo Hà Nội mới ngày 21-8-1975

 

Trước khi lên đường đi thi Toán quốc tế, em Lê Đình Long đến thăm thầy Vũ Hữu Bình, người dạy Long hồi em còn học lớp 6 trường cấp II thị trấn Gia Lâm. Nay thầy vẫn dạy Toán cấp II, nhưng khác trước là nay dạy các lớp chuyện Toán của thành phố (đặt tại trường cấp II Trưng Vương).

Ở trường Trưng Vương, dạy chuyên Toán có một số giáo viên có nhiều kinh nghiệm. Các thầy giáo đó ít nhiều có thuận lợi trên con đường đi của mình.

Thầy giáo Bình bước vào nghề dạy học với nhiều khó khăn hơn. Học sư phạm cấp tốc trong ba tháng, thầy Bình về thẳng trường cấp II thị trấn Gia Lâm, dạy toán lớp 7, không qua kiến tập, thực tập. Dạo đó – 1961 – ngành giáo dục còn nhiều bỡ ngỡ, mò mẫm. Thầy Bình tình nguyệnở lại trường, không đi về nội thành như nhiều giáo viên khác. Anh dànhnhiều thời giờ cho học sinh và cho việc đọc sách, rèn luyện chuyên môn. Học sinh hồi đó thường lớn tuổi mà thầy lại trẻ. Song nhờ lòng yêu thương học sinh, nhờ năng lực dạy học và trình độ kiến thức vững vàng, thầy Bình gây được uy tín trong trường, trong phụ huynh. Thầy đòi hỏi cao và tìm nhiều biện pháp để nâng trò mình lên. Trước đây, thầy Bình đã đỗ đầu kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm học 1960-1961 tại Hội đồng chấm thi trường cấp III Chu Văn An. Ra đời, anh vẫn giữ được tính ham học: học tiếng Nga, tiếng Pháp để đọc sách báo Toán nước ngoài. Giải các bào toán khó cho học sinh là một việc làm cần thiết trong nghề dạy Toán. Nhưng hệ thống hóa các cách giải, tìm cách giải mới và hay, phân loại hàng trăm bài tóan là một việc làm vất vả hơn, nhiều khi có tính nghiên cứu khoa học, và có thể nói có cả tính nghệ thuật nữa. Nhiều năm liền thầy Bình được bầu là chiến sĩ thi đua. Tháng 12-1973, thầy Bình được Sở Giáo dục chọn về dạy các lớp chuyên Toán của thành phố. Hết học kỳ II, lớp 6H của thầy Bình tiến bộ rõ rệt. Sang năm học 1974 – 1975, lớp 7H có thể nói là say Toán.

Điều khó nhất của người dạy chuyên Toán là trong chương trình Toán phổ thông, nên đi sâu vào chỗ nào, hướng nào. Cái sáng tạo của thầy sẽ mở con đường tốt cho trò hăm hở tiến lên. Được sự giúp đỡ của nhà trường, của Sở Giáo dục, thầy Bình vạch ra một chương trình riêng cho lớp 7H chuyên Toán.

Thầy đào sâu lý thuyết, nâng cao yêu cầu so với kiến thức Toán lớp 7. Thầy tham khảo sách toán nước ngoài, sưu tầm hàng nghìn đề toán hay. Thầy hệ thống hóa các cách giải, phân loại các dạng toán cho trò. Trong các giờ dạy học, thầy truyền cho trò cái ham mê học hỏi, ham mê làm toán. Thú vui nghề nghiệp của thầy cộng với lòng say sưa học tập của trò đã tạo nên không khí hăm hở, mải mê của 7H.

Để nâng trò mình lên, thầy yêu cầu các em giỏi viết các bài chuyên đề phát triển, nâng cao các đề Toán. Hiện thầy vẫn giữ hàng chục bài chuyên đề phát triển, mỗi bài dài hàng bốn năm tờ giấy khổ lớn của các em viết về các chuyên đề toán học. Ngoài những giờ học toán là những buổi văn nghệ sôi nổi, đá bóng, say sưa những kỷ niệm đẹp.

Đỗ Đức Thái, Nguyễn Minh Nguyệt đã chiếm Giải Nhì thi Toán lớp 7 toàn miền Bắc (kỳ thi không có giải Nhất); Lê Xuân Hùng, Dương Quảng Bình chiếm Giải Ba; Dương Tú Binh giải Tư; Nguyễn Hưng Quốc, Bùi Thị Hồng Liên Giải Khuyến khích. Một nét đặc biệt: năm học vừa rồi, các em gái được giải nhiều nhất so với các năm trước.

Hồng Minh nhanh nhẹn, nhạy bén, giải Toán giỏi; Bùi Thị Hồng Liên sức yếu nhưng chịu khó và giải Toán rất khỏe; Quảng Bình sôi nổi; Xuân Hùng sáng tạo. Hè này, thày Bình rất bận. Thầy kiên trì theo đuổi lớp hàm thụ Toán do Sở giáo dục mở. Thầy Bình học rất say mê, tự giác, cẩn thận. Thầy là tám gương của trò, việc học của thầy sẽ là nguồn nước mát tưới cây kiến thức của trò lớn nhanh, lớn khỏe.

Giản dị, yêu nghề, khiêm tốn, cần cù và sáng tạo, thầy giáo Vũ Hữu Bình đã trở thành một giáo viên dạy Toán giỏi. Nhưng bất cứ ai yêu nghề đều không thỏa mãn với năng lực hiện tại của mình. Thầy Bình là người như thế.

 

Trần Bàn Minh.

Thầy Bình 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Học sinh viết về thầy.
add a comment

Chẳng khi nào tôi quên được thầy tôi

Người dạy chúng tôi đạo làm người

Uốn nắn chúng tôi từng chút một

Mà chúng tôi thì vẫn cứ ham chơi

Đỗ Quỳnh Anh

Học sinh khóa 30 chuyên toán Trưng Vương

 

Chẳng khi nào tôi quên được thầy tôi

Người dạy chúng tôi đạo làm người

Uốn nắn chúng tôi từng chút một

Mà chúng tôi thì vẫn cứ ham chơi

Đỗ Quỳnh Anh

Học sinh khóa 30 chuyên toán Trưng Vương.

THƠ TẶNG CHÁU NỘI VĨNH LONG 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
add a comment

Vĩnh Long về với ông bà

Bao nhiêu kỷ niệm thật là khó quên.

Yêu sao tiếng ạ đầu tiên

Người thì cúi xuống thật hiền thật ngoan.

Biết làm hoàng đế”vênh vang”

Biết nâng quả tạ lên ngang trên đầu.

Mười hai con giáp thuộc làu

Lại thêm ngựa hí, chó gâu, hổ gầm.

Hôm nào mới được đầy năm

Mà nay đã chạy loăng quăng khắp nhà.

Mỗi lần ngủ dậy chỉ hoa

Bà yêu bà bế, bé sà vào ngay.

Chìa tay xin, đến là hay

Bà cho rửa mặt rửa tay bé cười.

Giơ tay bé chỉ lên trời

Long lanh đôi mắt sáng ngời đáng yêu.

Ông thương, ông bế, ông chiều

Vẽ voi, vẽ ngựa, vẽ nhiều vịt ngan.

Bé ơi, bé lớn bé ngoan

Biết chăng bố mẹ lo toan tháng ngày.

Hai bên nội ngoại chung tay

Mong sao bé cứ mỗi ngày một khôn.

Con sông có ngọn có nguồn

Con người sống có quê hương ông bà.

Bé ở gần hay ở xa

Lúc nào cũng cứ xứng là Vĩnh Long. (*)

2003

(*)Long có nghĩa là tốt đẹp (như trong từ long trọng. Vĩnh Long có nghĩa là mãi mãi tốt đẹp.

TẠM BIỆT TRƯNG VƯƠNG 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
add a comment

Hôm nay tạm biệt mái trường

Ba mươi năm ấy, vấn vương nghĩa tình.

Nhớ đồng nghiệp, nhớ học sinh

Buồn vui chia sẻ, chân tình thủy chung.

Xin ghi sâu những tấm lòng

Xin ghi sâu những dáng hình thân thưong

Sẽ theo tôi suốt chặng đường

Mãi là nhựa sống, là hương vị đời…

9-2003.

THƠ TẶNG CÁC THẦY CÔ GIÁO TRƯNG VƯƠNG NGHỈ HƯU 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
add a comment

Truyền thống Trưng Vương có sự đóng góp của nhiều thầy cô giáo. Những câu thơ sau đây trích trong các bài thơ tặng các thầy cô giáo khi nghỉ hưu, là tình cảm gửi đến các thầy cô, là sự ghi nhận những cống hiến của các thầy cô cho sự nghiệp trồng người góp phần làm nên một Trưng Vương sáng chói.

 

Cô Lê Thị Ly (dạy toán – sinh)

 

Mỗi năm một lớp học sinh

Ra trường vẫn nhớ dáng hình của cô

Đã lên bà tự bao giờ

Thế mà vẫn trẻ dáng đi tiếng cười

Tóc vẫn đen, miệng vẫn tươi

Ra đường vẫn có… nhiều người nhìn theo…

1-2-1990

 

 

 

Cô Nguyễn Thị Tuyết (dạy sinh, Thư ký Công đoàn)

 

Chị làm thư ký bấy lâu

Công đoàn liên tiếp dẫn đầu thi đua

Việc công cho đến việc tư

Việc nào chị cũng chăm lo vẹn tròn

1990

 

Cô Vũ Thục Anh (dạy Toán, hóa)

Chia tay tiễn chị nghỉ hưu

Mà lòng lưu luyến dạt dào khôn nguôi.

Đã tròn ba chục năm trời

Giáo viên dạy giỏi mọi người ngợi ca.

Yêu nghề yêu trẻ thiết tha

Thương từng em nhỏ như là thương con.

Pa-ri từng đặt gót son

Nhiều cô gái Pháp vẫn còn kém xa…

19-3-1991

 

Cô Nguyễn Lệ Dung(hiệu trưởng nhà trường 1982-1991)

Với nghề gắn bó thiết tha

Với đồng nghiệp vẫn mặn mà thủy chung

Vô tư, thẳng thắn, công bằng

Công tư trọn vẹn, rõ ràng phân minh.

Trưng Vương truyền thống quang vinh

Còn ghi công chị tận tình dựng xây.

23-9-1991

 

Thầy Nguyễn Tiến Phát (dạy Lí)

Giáo viên dạy giỏi như anh

Về hưu thật tiếc nhưng đành vậy thôi!

Vào phòng lí lại nhớ người

Liên hoan lại nhớ tiếng cười trẻ trung.

Việc hiếu có anh lo cùng

Nghĩa tình bè bạn thủy chung vẹn toàn.

Anh về “giám đốc cửa hàng”

Mong sao khách đến ngày càng thêm đông.

Tiền đình giảm, tiền thu tăng

Mỗi khi rảnh rỗi ghé thăm lại trường.

19-3-1991

 

 

Cô Nguyễn Bội Hiền (Bí thư chi bộ nhà trường 1981 – 1992)

Bí thư chi bộ suốt mười năm

Quản chi khó nhọc với gian nan

Quan tâm chu đáo từng đồng chí

Thẳng thăn phê bình, mạnh đấu tranh.

Khó khăn đón nhận, luôn đi trước

Quyền lợi xin nhường, nguyện hưởng sau.

Chị nghỉ hưu rồi còn để lại

Tấm gương cho những lớp người sau.

11-3-1993.

 

Cô Trịnh Tường Anh (dạy Toán)

Chị nghỉ hưu rồi, sớm vậy ư?

Làm trò đang học cứ ngẩn ngơ

Bạn bè trong tổ đều lưu luyến

Một tấm gương trong, chẳng chút mờ.

10-12-1993.

 

 

Cô  Nghiêm Minh Hưng (Phó hiệu trưởng nhà trường 1976 –1994)

Trưng Vương mười tám năm trời

Chị làm hiệu phó sáng ngời tấm gương.

Cao sang mà vẫn khiêm nhường

Chuyên môn, chỉ đạo, am tường cả hai.

Xin ghi nhớ mãi những ngày

Chị cùng chung sức dựng xây mái trường.

7-10-1994.

 

 

Cô Lê Bảo Ngọc (dạy văn, thư kí công đoàn)

Chị làm chủ nhiệm nổi danh

Lớp hư chị nhận cũng thành lớp ngoan.

Môn văn chị dạy vững vàng

Công đoàn chị cũng sẵn sàng tham gia.

Bao nhiêu thử thách vượt qua

Trước sau chị vẫn xứng là tấm gương.

1997 -1998

 

Cô Trần Ngọc Thúy (dạy tiếng Nga, tiếng Anh, chủ tịch Công đoàn)

Lên bà vẫn trẻ, vẫn hồn nhiên

Hát vẫn hay, mà nét vẫn duyên

Chủ tịch Công đoàn liền mấy khóa

Lo quà sinh nhật khắp đoàn viên.

 

Đến tuổi cho nên chị nghỉ hưu

Bóng hình cô vẫn mãi in sâu

Bao trò đạt giải Olimpic

Nhớ công cô dìu dắt buổi đầu.

 

Nghỉ hưu nhưng chị vẫn tới trường

Vẫn làm giám thị, giữ kỷ cương

Mỗi giờ lên lớp, trường yên tĩnh

Vẫn có bàn tay chị góp công.

12-1998

 

 

Cô Đoàn Nguyên Phương (dạy Toán)

…Sắc sảo, thông minh lại nhiệt tình

Giỏi nghề, giỏi quản lý học sinh

Học trò lớp lớp đều ghi nhớ

Cô giáo Nguyên Phương trọn nghĩa tình.

12-1998

 


Cô Lê Mộng Dung (dạy Toán, Sinh)

Một mình gánh vác việc nhà

Công đoàn chị vẫn tham gia hết mình

Dạy Sinh nên nét vẫn xinh

Học trò bao lớp, nghĩa tình bấy nhiêu.

12-1998

 

 

Cô Trần Thị Ngân (dạy Kỹ thuật – nữ công)

Khéo thêu may, khéo cắm hoa

Nữ công thành thạo, việc nhà đảm đang.

Quỹ giao rành mạch, rõ ràng

Thu chi chính xác, đàng hoàng phân minh.

Với trường, là cựu nữ sinh

Nên càng thắ     m mãi nghĩa tình Trưng Vương.

18-2-2000.

 

Cô Lưu Kim Liên (dạy Toán – sinh)

Vừa dạy Toán, vừa dạy Sinh

Tổ cần, chị rất nhiệt tình tham gia

Nữ công, gia chánh tài hoa

Đối nhân xử thế, đậm đà thủy chung.

18-2-2000

 

Thầy Vũ Hữu Định (Hiệu trưởng nhà trường 1991-2000)

Tới trường lúc sớm tinh mơ

Từ Vươn thở đến Tiếng thơ mới về.

Nhiệt tình gắn bó với nghề

Vì đàn em nhỏ, say mê suốt đời.

18-11-2000

 

 

Thầy Nguyễn Hoàng (dạy Địa)

Dạy Địa như anh, được mấy người?

Hiểu sâu, biết rộng, đến nhiều nơi.

Sa bàn, vi tính anh thành thạo,

Đến sang tận Mỹ, cũng sang rồi.!…

5-2003

 

Chùm thơ tặng 5 thầy cô giáo (*)

Tận tình và trách nhiệm cao

Được thầy dạy Toán, lớp nào cũng mong.

Sức khỏe ân cần hỏi han

Chị liền tư vấn, bệnh xoàng khỏi ngay!

Chỉ vì còn bốn hoa tay

Nếu còn đủ cả, có ngày…làm to.

Con thi Lí nhất quốc gia

Chồng là vụ trưởng, cả nhà xứng danh!

Với đồng nghiệp, sống chân thành

Công đoàn xuất sắc, có anh góp phần.

5-2003

(*)Mười câu thơ này lần lượt nói về các thầy cô giáo:

– Thầy Trần Đình Phương dạy Toán – Lý

– Cô Nguyễn Kim Thu dạy Toán

– Thầy Nguyễn Hoàng dạy Địa

– Cô Phạm Thị Thành dạy Toán

– Thầy Nguyễn Ngải dạy Văn, Chủ tịch Công đoàn.

 

MỖI NĂM 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
add a comment

Mỗi năm thêm một tuổi đời

Mỗi năm là một tuổi trời ban cho.

Thêm niềm vui, bớt âu lo

Chúc cho hạnh phúc ấm no suốt đời.

Mỗi năm thêm một tuổi trời

Mỗi năm là một tuổi đời đẹp tươi.

1-2001

NHƯ BÔNG HOA THẮM 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
add a comment

Tặng các cô giáo Trưng Vương

tham dự Hội thi Cô giáo tài năng duyên dáng

 

Đã dạy giỏi lại hát hay

Cắm hoa thì khéo, thêu may cũng tài.

Duyên từ dáng đứng nét cười

Đẹp trong ứng xử tình người chứa chan.

Vừa duyên dáng, vừa tài năng

Như bông hoa thắm nở trong vườn đời.

 

20-11-1993.

NIỀM VUI VIẾT SÁCH GIÁO DỤC 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
3 comments

Đăng trên tạp chí Sách giáo dục và thư viện trường học

Số 12 -2005

 

Từ cuốn sách đầu tiên…

Cuốn sách đầu tiên tôi tham gia viết cùng hai bạn đồng nghiệp (Tôn Thân, Hoàng Ngọc Lân) và hai thầy giáo của chúng tôi (thầy Văn Như Cương, thầy Ngô Xuân Sơn) – cuốn Luyện Toán lớp 8 – được in năm 1983. Ở thời điểm đó, một cuốn sách ra đời không dễ: Trước khi cuốn sách được Trường đại học Sư phạm Hà Nội I đứng tên xuất bản thì lần in đầu tiên còn phải nhờ Sở giáo dục Thái Bình đứng tên.

Tôi còn nhớ cảm giác vui sướng của mình khi trở thành một tác giả viết sách. Tôi cứ càm cuốn sách trong tay ngắm nghiá, đọc đi đọc lại nhiều lần những trang in trên giấy còn xấu, đặc điểm chung của các cuốn sách in trong những năm 80 đầy khó khăn của thế kỷ trước.

Để học sinh vui học, tôi đã diễn đạt một số bài toán bằng thơ, chẳng hạn một bài toán cổ trong Tuyển tập Toán bằng thơ của Hy Lạp:

Lừa và Ngựa thồ hàng ra chợ

Ngựa thở than mình chở quá nhiều

Lừa rằng: “Anh chớ lắm điều!

Tôi đây mới bị chất nhiều làm sao!

Anh đưa tôi một bao mang bớy

Thì tôi thồ nhiều gấp đôi anh

Chính tôi phải trút cho anh

Một bao gánh đỡ mới thành bằng nhau”.

Hỏi Lưà, Ngựa chở mấy bao?

 

Tháng 4-2005 vừa qua, TS Tôn Thân và tôi vào hướng dẫn giáo viên cốt cán các tỉnh phía Nam dạy theo SGK mới Toán 9, tình cờ gặp được một giáo viên cho biết anh rất thích cách phân tích bài toán trong cuốn sách này và vẫn thường xuyên dùng nó để dạy học sinh. Cuốn sách chỉ in ra một vài lần ở miền Bắc, vậy mà 22 năm sau, ở một tỉnh xa xôi phía Nam, nó vẫn đang sống, vẫn trong tay những người thầy cô đang đứng trên bục giảng, vẫn có tiếng nói trong công việc đổi mới dạy học hôm nay.

Đến cuốn sách thứ 100.

Sách nâng đôi cánh cho nghề dạy học, và thực tế dạy học giúp việc làm sách thiết thực hơn. Đến tháng 7-2005, tôi đã có 100 cuốn sách được xuất bản (là tác giả của 41 cuốn, đồng tác giả của 59 cuốn).

Sau nhiều cuốn sách như Các bài tập và chuyên đề về tam giác; Giúp dạy tốt Toán 6; Phương trình và bài toán với nghiệm nguyên; Kinh nghiệm dạy Toán và học Toán… cuốn Nâng cao và phát triển Toán 9 là cuốn sách thứ một trăm, cuốn sách cuối cùng của bộ sách Nâng cao và phát triển Toán, tiếp nối bộ sách Một số vấn đề phát triển Toán bậc THCS.

Cầm cuốn sách trong tay, tôi cũng ngắm nghía, cũng đọc đi đọc lại nhiều trang, dù cảm giác hồi hộp không bằng cuốn sách đầu tay nhưng niềm vui thì vẫn tươi nguyên như trước.

 

Mỗi bài toán là một nốt nhạc.

Viết sách cho đối tượng học sinh bậc THCs, trước hết phải hiểu các em. Trong bộ sách Toán cơ bản và nâng cao từ lớp 6 đến lớp 9 dành cho học sinh trung bình khá, tôi đã chọn lọc những bài toán “đơn giản mà vẫn hàm súc, không khó nhưng vẫn đòi hỏi sự sáng tạo”, viết các hướng dẫn dễ hiểu nhưng không làm thay các em, vẫn dành lại cho học sinh những phần để các em tự giải quyết.

Năm 2000, tôi viết cuốn Các bài toán hình học tổ hợp dùng cho bậc THCS.

Dạng toán này là khó ngay cả đối với học sinh giỏi, hầu như mỗi bài lại có một kiểu giải riêng. Gặp bài toán hình học tổ hợp, học sinh như lạc vào mê cung không tìm được lối. Cần xây dựng những phương pháp riêng để giải loại toán này, cần phân tích cách giải để học sinh dễ định hướng và hình dung được đường lối giải quyết bài toán. Cần tìm được những nét giống nhau để sắp xếp các bài tóan hình học tổ hợp thành từng dạng. Cần đặt những bài tóantương tự cạnh nhau để giúp học sinh tự giải được nhiều bài.

Tôi ngẫm ra rằng, mối bài toán như một nốt nhạc, các nốt nhạc đặt đúng chỗ thì tạo thành giai điệu, các bài toán đặt đúng chỗ thì tác dụng được nhân lên.

 

Tấm lòng của bạn đọc

Tình cảm của bạn đọc dành cho cuốn sách là phần thưởng vô giá đối với tác giả. Tôi nhận được nhiều thư của bạn đọc từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến vùng núi, từ cụ già đến em nhỏ. Xin trích ở đây một vài thư.

Thư của anh Lại Cao Đằng – giáo viên trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Eakar-ĐắcLắc viết năm 2001: “Trong tủ sách cá nhân của em, sách tham khảo về Toán chủ yếu là sách của thầy”.

Thư của cụ Lê Hạnh ,76 tuổi, ở tổ 2, phường Tân Hòa, thị xã Hòa Bình viết năm 2000: “Bộ sách Một số vấn đề phát triển Toán bậc THCS đã giúp tôi, có thể nói đã dạy tôi hiểu biết thêm. Và tôi dùng để dạy con cháu.”

Thư của em Đoàn Công Hoàng ở thôn Lại Yên, xã Trung Châu – huyện Đan Phượng – Hà Tây viết năm 2000: “Cháu xin thay mặt các bạn học sinh bậc THCS cảm ơn bác và NXB Giáo dục đã xuất bản ban những cuốn sách vàng kinh điển.Mong sao có nhiều loại sách như thế hơn nữa để đưa chúng cháu bay vào thiên niên kỷ mới với đầy ước mơ và hoài bão.”

Xin được cảm ơn tất cả các bạn đọc xa gần. Xin được cảm ơn những biên tập viên, những người đọc góp ý, những người làm chế bản và mỹ thuật, những người ở “hậu trường” đã góp phần vào chất lượng cuốn sách, những người làm công tác phát hành đưa sách đến tay người đọc.

Trong thời đại internet, văn hóa đọc vẫn có chỗ đứng của nó – Sách vẫn được bạn đọc quan tâm. Và những tác giả sách giáo dục như chúng tôi vẫn mong còn được tiếp tục phục vụ bạn đọc.

CHÚNG TÔI VIẾT SÁCH GIÁO KHOA TOÁN 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
add a comment

Đăng trên báo Hà Nội mới số Tết Quý Mùi 2003

Khác với sách giáo khoa (SGK) THCS trước đây thường do một người viết, lần này Bộ GD&ĐT giao cho một nhóm tác giả gồm nhà khoa học, nhà sư phạm, giáo viên trực tiếp đứng lớp. Tập thể tác giả SGK Toán 6 gồm: PGS-TS Phan Đức Chính (tổng chủ biên), PGS-TS Tôn Thân (chủ biên), PGS-TS Phạm Gia Đức, TS Trần Luận và tôi, Vũ Hữu Bình đang dạy tại trường THCS Trưng Vương. Lần trước sách  ra đưa ngay vào sử dụng đại trà. Lần này nó được thí điểm trong hai năm ở 11 địa phương có mặt bằng giáo dục khác nhau.

Trước đó, các tác giả còn có hai năm chuẩn bị biên soạn sách, được tập huấn, tham gia hội thảo, xem SGK của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Vào những năm 60 – 80 của thế kỷ trước, nhiều nước có ý tưởng hiện đại hoá môn Toán, muốn học sinh tiếp cận những kiến thức hiện đại. .. Do thiếu cơ sở sư phạm, những ý tưởng đó không thực hiện được, thậm chí gây sai lầm. Rồi nhiều nước quay lại Toán học thực dụng, chỉ dạy những gì trong đời sống được sử dụng nhiều, bỏ qua cả tính hệ thống và những lập luận cần thiết. cả hai thái cực trên đều không phù hợp với mục tiêu đào tạo con người của ta. SGK lần này được giao viết theo tinh thần giảm tính hàn lâm kinh viện. tăng tính ứng dụng thực hành, không quá coi trọng tính cấu trúc những vẫn cố gắng đảm bảo tính hệ thống, học hỏi nước người nhưng không làm mất đi những mặt truyền thống ở ta.

Chúng tôi đi Thái Bình, Hoà Bình, Tuyên Quang dự giờ, tiếp xúc với giáo viên và học sinh, dựng đề cương, soạn bài mẫu, dạy thử rồi mới bắt tay viết chính thức. Có đến 8 vòng sửa chữa bản thảo ở đủ các “cấp”, kể cả những lần tác giả tự sửa thì có bài được viết đi viết lại đến mười lần.

Toán 6 mới trình bày kiến thức thông qua các hoạt động tìm tòi, khám phá phù hợp với lứa tuổi học sinh. Mở đầu mỗi bài học thường là những tình huống, rồi các câu hỏi “giữa chừng” giúp học sinh từng bước tiếp nhận. Kiến thức được vận dụng, nâng dần ngay vào bài tập. Để tránh khô khan, con số được gắn với các nội dung thực tế, kiến thức xã hội văn hoá nói chung. Thông qua giải toán, các em biết năm ra đời của ô tô, máy bay, lợi ích của kênh đào Xu-ê, độ cao của đỉnh Phan-Xi-Păng… Nhiều dạng bài tập mới được đưa vào: điền số, điền từ, giải ô chữ, phát hiện chỗ sai, thực hành đo đạc, cắt ghép hình, bài tập trắc nghiệm. Rồi các bài “Đố vui”, các bài đọc thêm cũng mang đến nhiều hiểu biết thú vị. TS Tôn Thân tình cờ chứng kiến ở một gian trưng bày sách, có người chợt hỏi cô thuyết minh “Nước ta có bao nhiêu dân tộc?” Một người khác xen ngay vào: “Một bài tập trong SGK toán 6 cũng nói đến điều đó đấy!”. Một giáo viên dạy toán nói với tôi rằng từ khi SGK Toán 6 đưa ra bài toán : “Năm abcd, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô Đại cáo tổng kết cuộc kháng chiến do Lê Lợi lãnh đạo chống quân Minh, trong đó ab là tổng số ngày trong hai tuần lễ (tức là 14), còn cd gấp đôi ab (tức là 28), thì con số 1428 anh không bao giờ quên được. Những con số đã trở nên “có hồn” và dễ nhớ.

Có tác giả đề nghị hoạ sĩ sửa hình vẽ em bé đi xe đạp ngoái cổ lại nhìn con ong thành hướng mặt ra phía trước để giáo dục ý thức an toàn giao thông. Hay sửa lại các số liệu để có một bài toán, trong đó em học sinh đã rửa bát, vừa quét nhà, làm bài tập, vừa xem hết chương trình phim truyền hình trong 45 phút.

Chỉ có một cuốn SGK dùng cho mọi vùng miền, chắc khó đáp ứng từng yêu cầu. Ngay ở một vùng cũng có nhiều ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề. lại có nhiều thư bạn đọc gửi đến nêu thắc mắc, hỏi cách dạy, người khích lệ và động viên. Tuy nhên chắc chắn trong sách còn có những thiếu sót. Như lần trước, các tác giả đã “toát mồ hôi” với hình vẽ máy tính bỏ túi, hoạ sĩ đã vẽ thiếu một dấu căn và thừa một số 7. Lỗi in ấn, và cả những lỗi do sơ suất nữa, chắc không thể tránh khỏi…

Cũng đã có người hiểu lầm là các tác giả được trả thù lao rất cao. Với mức Nhà nước trả 300.000đ cho một tiết của SGK, các tác giả tự nguyện làm hết sức mình, bởi tiền nhà nước trả cũng là tiền dân đóng góp, bởi đây là sự tín nhiệm của ngành, là trách nhiệm đối với cả một thế hệ. Chúng tôi chỉ mong sao học sinh được học những cuốn sách tốt, vừa bổ ích, vừa lý thú để yêu thích môn học hơn và yêu cuộc sống hơn.

TIỄN CÁC EM LÊN ĐƯỜNG 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
add a comment

Tặng các em học sinh lớp cuối cấp ra trường

Tôi muốn gửi những lời yêu thương nhất

Đến từng em buổi tổng kết hôm nay

Bao tháng bao ngày phấn đấu hăng say

Nay đã gặt một mùa thi tốt đẹp.

Rất thấm thía những phút giờ tạm biệt

Nhớ từng người, từng việc năm qua

Nhớ hoạt động Chi đoàn, nhớ những chuyến đi xa

Tô đậm nét những ảnh hình không phai nhạt.

Có nhìn lại chặng đường qua mới thấy mình đổi khác

Đến hôm nay tạm biệt mái trường yêu

Vẫn chiếc ghế, vẫn ngăn bàn, sao bỗng quý thêm nhiều

Cũng lớp học, cũng sân chơi, sao có gì đổi mới?

Những năm qua, quãng thời gian ngắn gủi

Sống trong tình thương của các thầy cô

Như hạt giống hôm nào vừa mới nở

Nay đã thành cây, mưa gió chẳng xô!

Như đưa con từ giã mẹ lên đường

Hôm nay xa tập thể yêu thương

Dòng suối nhỏ đã trở thành sông lớn

Nay đến giờ trăm ngả đổ đại dương.

Như những đàn chim đủ cánh rồi

Rời tổ bay chấp chới lưng trời

Như con thuyền tháng năm chờ đợi

Nay buồm căng lộng gió ra khơi.

Rồi mai đây trên bước đường đời

Hãy nhớ về trường cũ như là nơi gieo hạt

Xa ban, xa thầy, xa mái trường ruột thịt

Chúc các em mạnh mẽ bước đi lên

Truyền thống Trưng Vương mãi mãi không quên

Hãy giữ vững và tô thêm đậm nét.

Lưu luyến chia tay, phút giờ tạm biệt

Chào những đứa em vô cùng thân thiết

Tiễn các em từ giã lên đường

Còn mãi trong lòng ngàn vạn mến thương….

1975

17 NGÀY TRÊN ĐẤT PHÁP 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
add a comment

Đăng trên báo Hà Nội mới chủ nhật ngày 18-6-1989.

Đoàn giáo viên chuyên Toán Việt Nam đến Paris vào một ngày đầu tháng tư năm nay. Trong bốn đoàn viên thì ba là nhà giáo Hà Nội: Thày giáo Lê Hải Châu (Bộ giáo dục) trưởng đoàn, cô giáo Phạm Thị Như Ngọc (trường PTCS Thăng Long) và Vũ Hữu Bình (trường PTCS Trưng Vương).

Lúc này Paris đã vào xuân. Người Paris chờ đón mùa xuân từ lâu. Trên nhiều đường phố thấy những tấm biển với dòng chữ lớn: “Kìa! Mùa xuân đấy.” Mùa xuân ở đây thật đẹp: các cây xanh trong thành phố khoác những bộ áo mới mượt mà, những bông hoa tuy-lip khoe sắc vàng hoặc đỏ (có loại màu đen) rực rỡ trên các vườn hoa.

Chúng tôi đã dự 120 giờ ở 10 trường nội thành và ngoại thành Paris. Hệ thống giáo dục phổ thông của Pháp kéo dài 12 năm: 5 năm tiểu học (primaire, tương đương cấp 1 của ta), 7 năm trung học chia thành trường côlegie (collège, tương đương cấp II) và trường litxee (lysee, tương đương cấp III). Học hết cấp II, học sinh đều lên cấp III. Mọt hội đồng giáo dục của nhà trường quyết định học sinh vào trường cấp III dạy nghề hay vào lớp đệ nhị (tương đương lớp 10 của ta). Học xong lớp đệ nhị, tuỳ theo khả năng mà học sinh có thể học ban văn, ban kinh tế và xã hội, ban toán lý, ban toán sinh, ban toán kỹ thuật, ban tin học, ban âm nhạc và nghệ thuật…trong hia năm để thi lấy 1 trong 13 bằng tú tài khác nhau, tuỳ từng loại bằng mà học sinh được thi vào một số trường đại học nhất định. Sự phân ban cùng với hệ thống trường dạy nghề đã phát huy được khả năng riêng của từng học sinh và làm cho chất lượng học sinh ở cấp III khá đồng đều. Ở các trường, học sinh thường học buổi sáng, ăn trưa tại trường, buổi chiều tham gia các hoạt động ngoại khoá, câu lạc bộ hoặc tự học.

Lớp 1 và cấp I được coi trọng. Có những thầy giáo ở trường đại học hoặc ở viện nghiên cứu xuống dạy cấp I để tìm hiểu thực tế học sinh. Học sinh cấp I đã được học tin học. Ở lớp đệ ngũ (tương đương lớp 7 của ta) cứ hai học sinh điều khiển một máy tính để vẽ đồ thị trên màn hình.

Tại một trường cấp III dạy nghề, có đến trên một trăm cỗ máy, có cả người máy. Bên cạnh những biểu đồ, những quy trình sản xuất, chúng tôi nhìn thấy một khẩu hiệu: “Luôn nghĩ trước khi làm”. (Toujours réflecchir avant d’agir).

Chúng tôi đến trung tâm “Những thiên hướng trẻ” (Jeunes Vocatinons). Ởe đây tiếp nhận các trẻ em yêu thích khoa học, văn học và nghệ thuật đến học hai buổi chiều trong tuần với các nhóm toán, tin học, lý hoá, vật lý thiên văn, sinh học, trồng cây, lịch sử, thơ ca, hợp xướng, sân khấu, kịch câm, âm nhạc, nghệ thuật, vẽ, thể thao. Tuy vậy quy mô của Trung tâm này chưa bằng Nhà văn hoá thiếu nhi Hà Nội. Ở nhóm học vẽ 7 học sinh, thày giáo đưa ra gần mưới bức tranh và cùng học sinh phân tích cách sử dụng ánh sáng của các hoạ sĩ. Ở nhóm Toán, thầy giáo hướng dẫn học sinh giải những bài toán khó, những bài toán cổ điển. ở Pháp chưa có chương trình bồi dưỡng năng khiếu về Toán gắn với chương trình phổ thông như của ta. Các bạn Pháp đánh giá cao kết quả tốt và ổn định của học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Toán qưuốc tế và cũng bắt đầu tổ chức những kỳ thi vô địch về Toán.

Năm nay, nước Pháp kỷ niệm 200 năm cách mạng Pháp. Các công trình kiến trúc lớn được tu bổ để đón khách. Ở bảo tàng Lu-vrơ, người ta xây dựng thêm một tháp lớn hình chóp ở cửa chính và đào thêm tầng hầm để lộ ra chân một lâu đài cổ. Hệ thống chiếu sáng tháp Epphen ban đêm được bố trí lại, chiếu từ bên trong ra làm nổi rõ kiến trúc thanh thoát và lộng lẫy của chiếc tháp cao 320m, nặng 7000 tấn, Chúng tôi đã nhìn toàn cảnh Paris từ nhiều độ cao khác nhau, nhưng không đâu thấy Paris đẹp bằng đứng trên nóc của Cổng Khải hoàn Ngôi sao: mười hai đại lộ toả ra từ đó như những cánh sao, chạy tít tắp đến tận chân trời, các toà nhà nhiều màu sắc với vô số những lâu đài, mỗi cái một vẻ, hài hoà, tô điểm cho nhau.

Trên các đường phố, người dân Paris đi lại vội vàng để kịp đến bến ô tô buýt hay ga tàu điện ngầm. Tuy nhiên họ sẵn sàng dừng lại và chỉ đường rất chu đáo khi chúng tôi hỏi. Người Pháp cũng ưa hài hước: ở cửa hiệu cắt tóc, chúng tôi thấy hình vẽ một cậu bé trọc đầu với dòng chữ “cắt tóc không mất tiền”.

Tôi đã ngồi ở vườn hoa Luc-xem-bua để nhìn những chiếc lá vàng rơi từng chiếc một trên vai trắng của các pho tượng như trong hồi ức của nhà văn Pháp A-na-tôn Frăng-xơ, mặc dù lúc này không còn là những ngày đầu tháng 10.  Tôi cũng đi đến kè đá ven sông Xen, với các nhà văn Pháp thường đến để tách khỏi cái náo nhiệt của thành phố và đắm mình với dòng suy nghĩ riêng tư.

17 ngày ở Paris là “17 khoảnh khắc ngắn ngủi của mùa xuân”. Chúng tôi đã biết thêm về nước Pháp và nền giáo dục Pháp. Chúng tôi cũng hiểu thêm về những mạnh và những mặt chưa mạnh của nền giáo dục Việt Nam. Đi dọc kè đá ven sông Xen, tôi nghĩ đến dòng sông Hồng và nghĩ đến các em học sinh Việt Nam: trong điều kiện vật chất còn thiếu thốn rất nhiều, học sinh Việt Nam đã đạt những kết quả cao về học tập văn hoá, trong đó có môn Toán, mà khi đến bất cứ trường nào, các giáo viên và học sinh Pháp đều nhắc đến một cách khâm phục.

NGỢI CA 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
add a comment

Đất nước ta đang từng ngày thay đổi

Dầu đã phun từ đáy biển sâu

Anh thợ trẻ ấn tay nâng cần cẩu

Xây những ngôi nhà chót vót trời cao

Đất nước ta lúa mọc thành biển rộng

Trĩu hạt vàng. Những máy gặt thay người

Cô thiếu nữ má ửng hồng trong nắng

Chở lúa về, câu hát đọng trên môi

Đất nước ta những đoàn tàu rẽ sóng

Cờ vàng sao lồng lộng gió ra khơi

Ánh đèn điện reo lên tững xóm vắng

Như sao trời lấp lánh khắp trăm nơi

Ta sẽ mãi khắc sâu vào tim óc

Những con người sản xuất vượt thời gian

Những chiến sĩ đang canh trời giữ đất

Và những người thày giáo vinh quang.

Ta khắc ghi trong những ngày mất nước

Có người thầy tim uất máu hờn căm

Giờ Lịch sử kết tội thù xâm lược

Rồi xa trường theo cách mạng bao năm

Ta khắc ghi những năm dài kháng chiến

Giữa rừng sâu vang tiếng giảng bài

Vừa dạy học, vừa cùng dân đánh giặc

Chỉ có ngô khoai mà vẫn dẻo dai.

Ta khắc ghi những năm đầu xây dựng

Những người thày chịu đựng mọi gian nan

Khoác ba lô lên từng bản từng làng

Đem con chữ để xóa dần tăm tối

Ta khắc ghi những người thầy cặm cụi

Dưới ánh đèn khuya mải miết soạn bài

Lựa chọn từng câu, từng ý, từng lời

Mang kiến thức loài người đến với từng em nhỏ.

Ta khắc ghi những người thày tự mình gắn bó

Dành cả cuộc đời chăm sóc những mầm non

Tỉa lá, trừ sâu cho cây chóng lớn lên

Sớm đến ngày ra hoa thơm trái ngọt.

Đất nước ta có bao giờ quên được

Những bàn tay gieo hạt ươm mầm

Chắp cánh cho ước mơ, nâng đỡ những cuộc đời

Nhóm ngọn lửa sáng ngời trong trí óc.

Như con ong cần cù khó khọc

Làm mật cho đời, tận tụy hăng say

Dù cuộc sống hôm nay còn vất vả đêm ngày

Vì thế hệ mai sau, miệt mài không nghỉ.

Tổ quốc ghi tên người thày như người chiến sĩ

Nhân dân nhớ ơn người thày trong mỗi con tim

Trong hương thơm, bông lúa reo mừng

Trong tiếng máy, rộn ràng khúc hát.

Tất cả vang lên bài ca không tắt

Ca ngợi những người thày giáo vinh quang

Những kỹ sư vô danh vượt lên mọi gian nan

Để rèn đúc những tâm hồn cao đẹp.

1964 – 1994

DẠY HỌC SINH HỌC TOÁN MỘT CÁCH SÁNG TẠO 18 Tháng Mười Một 2009

Posted by nguyenkcuong in Các bài viết của thầy.
add a comment

Vũ Hữu Bình

Đăng trên phụ trương báo Giáo viên nhân dân số 1 -1986

Nếu “Toán học là một môn thể thao của trí tuệ” thì công việc của người dạy Toán là tổ chức hoạt động trí tuệ ấy. Có lẽ không có môn học nào thuận lợi hơn môn Tóan trong công việc đầy hứng thú và khó khăn này.

Trong một lần kiểm tra, tôi giao cho mỗi tổ đặt một số câu hỏi theo nội dung bài học, chỉ định người của tổ khác trả lời, rồi nhận xét câu hỏi ấy. Các em đã nêu nhiều cách hỏi đa dạng, đôi khi khá hóc búa, và có những nhận xét chính xác. Thì ra, tiền năng cuả các em lâu nay chưa được phát huy không phải là lỗi ở các em, mà chính do cách dạy của thày.

Trong tiết dạy lý thuyết, tôi yêu cầu các em xem trước bài sắp học, ghi lại những thắc mắc và đến lớp với “những câu hỏi có sẵn trong đầu”. Trong các tiết luyện tập, học sinh lại càng có điều kiện phát huy năng lực sáng tạo qua việc khai thác bài toán, Chớ coi thường những bài toán đơn giản ở sách giáo khoa: ở đằng sau chúng là rất nhiều kết quả mới mẻ.

Ta có thể hái lượm được biết bao kết quả thú vị từ một bài toán đơn giản. Bằng cách phát hiện những tính chất mới của bài toán, bằng cách diễn đạt bài toán dưới hình thức khác, có thể nói, ở bất cứ bài toán nào, ta cũng thu được những kết quả mới, nhiều khi khá bất ngờ. Ở một số bài tóan, con đường tổng quát hóa, đặc biệt hóa, tương tự, lập mệnh đề đảo, xét bài toán chứng minh dưới khía cạnh quỹ tích hay dựng hình…. cho ta những công cụ đắc lực để sáng tạo.

Công việc nói trên đòi hỏi người thày giáo phải luôn luôn chịu khó tích lũy.

Các bài tập ra cho học sinh cần đượpc chọn lọc để tim đúng bài cần thiết, ra đúng thời điểm cần thiết. Bài dễ chuẩn bị cho bài khó, bài trước là một gợi ý cho cách giải bài sau, cứ thế học sinh có thể tự mình giải quyết được những vấn đề mới đặt ra, tự mình làm được công việc của người khám phá kiến thức. Luôn luôn đặt học sinh trước những bài tóan quá khó, vượt quá sức mình sẽ làm các em choáng ngợp, mất tự tin, thổi tắt ngọn lừa sáng tạo mới nhen nhóm trong đứa trẻ. Phải luôn luon tạo cho học sinh nhiều dịp tập dượt các thao tác tư duy. Trong các câu hỏi và bài tập, nhất thiết phải dành lại cho các em mảnh đất, dù là bé nhỏ, cho sự độc lập suy nghĩ để từ đó nảy sinh mầm mống của sự sáng tạo.

Tôi cũng nghĩ rằng các em học sinh giỏi không cần làm quá nhiều bài tập toán, mà chỉ cần làm một số lượng vừa đủ. Điều quan trọng hơn là phải hiểu nút riêng của từng bài: tại sao vẽ thêm đường này, do đâu tạo thêm điểm kia, vì sao chọn ẩn phụ như thế…., đồng thời hiểu được cách giải chung của từng nhóm bài tương tự. Có kiến thức vững chắc và biết cách suy luận, nhiều em học sinh giỏi đã biết giải toán một cách trọn vẹn, linh hoạt, chuyển phương hướng giải quyết khá nhanh khi gặp bế tắc.

Đỗ Đức Thái, giải Ba thi Toán quốc tế lần thứ 20, khi làm một bài kiểm tra ở lớp 7 (cũ) “Cho hình bình hành ABCD. Gọi b và d là khoảng cách từ B và D đến một đường thẳng bất kỳ qua A. Tính khoảng cách từ C đến đường thẳng ấy”, đã biết xét đủ hai trường hợp đường thẳng cắt và không cắt đoạn BD, để dẫn đến hai kết quả |b – d| và b + d, trong khi phần lớn các em khác chỉ dừng lại ở một trường hợp.

(hình vẽ)

Khi giải bài “Chứng minh trong các tứ giác ngoại tiếp một đường tròn cho trước, hình vuông có diện tích nhỏ nhất” trong cuốn Đánh giá hình học của các tác giả Liên Xô, em Hà Anh Vũ giải Nhất thi Toán quốc tế lần thứ 27 đã đưa ra một lời giải độc đáo bằng biến đổi đại số, khác với lời giải trong sách.

(hình vẽ)

Gọi a, b, c, d là các cạnh của tứ giác, S là diện tích, r là bán kính của đường tròn nội tiếp suy ra S = r (a+c) (1). Như thế diện tích tứ giác nhỏ nhất khi tổng (a + c) nhỏ nhất. Trong mọi tứ giác, ta đều có (a + c)(b + d) ≥ 4S. Kết hợp với (1) suy ra a + c ≥ 4r, từ đó dẫn đến kết quả.

Em Nguyễn Tuấn Trung, giải ba thi Toán quốc tế lần thứ 27 là học sinh duy nhất giải được bài toán sau đây trong một lần kiểm tra ở lớp 8 chuyên Toán: “Tìm số hữu tỉ x sao cho x + 1/x là một số nguyên”. Trong khi các em khác vẫn giữ nguyên ký hiệu x và đi đến ngộ nhận x (mũ 2) + 1 chia hết cho x, thì em Trung viết dưới dạng m/n (m, n nguyên) nên đã thành công. (**)

Muốn dạy học sinh giỏi toán một cách sáng tạo, người thày giáo dạy toán phải thường xuyên tự mình giải toán, có kế hoạch giải toán cho từng ngày đều đặn. Qua 25 năm dạy toán, trong đó có 13 năm dạy lớp chuyên toán, càng ngày tôi càng thấm thía câu nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng “Cái quan trọng là rèn luyện bộ óc, là rèn phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, phương pháp tìm tòi, phương pháp vận dụng kiến thức..” Lời dạy ấy vẫn hàng ngày vang bên tai tôi, nhắc nhở, thúc giục…

(chép phần toán trang 5)